Mark ở vũ trụ khácENMark học AI
Mark ở vũ trụ khác Thí nghiệm nổi tiếng · Tâm lý học ra quyết định

Thí nghiệm thử mứt

hay

The Jam Study · Sheena Iyengar và Mark Lepper, "When choice is demotivating" (2000)

Người làmSheena Iyengar (Columbia) · Mark Lepper (Stanford)
Thời giancông bố 2000 · kiểm chứng lại 2010 và 2015
Quy mô502 khách đi ngang bàn thử mứt (Iyengar và Lepper, 2000) · phân tích gộp 5.036 người (Scheibehenne và cộng sự, 2010)
Kết luậncó thật trong vài điều kiện, không phải quy luật chung · độ vững 4 / 10
Đọc lại trong 1 phút

Tinh hoa

24 loại hay 6 loại mứtMột bàn thử mứt trong siêu thị ở California, đổi số loại mỗi giờ (Iyengar và Lepper, 2000).
Nhiều thì ghé, ít thì muaBàn 24 loại: 60% ghé, 3% mua. Bàn 6 loại: 40% ghé, 30% mua (cùng nguồn).
Gộp lại: gần bằng 050 thí nghiệm, 5.036 người: hiệu ứng trung bình gần như bằng 0 (Scheibehenne và cộng sự, 2010).
Có thật khi đủ điều kiệnKhó so sánh, việc khó, chưa biết mình muốn gì, muốn chọn nhanh (Chernev và cộng sự, 2015).
Không có con số kỳ diệu"Cứ 6 lựa chọn là tối ưu" không có dữ liệu đỡ. Cái cần là lọc và so sánh giúp người chọn.
Phần 1

Câu hỏi của thí nghiệm

Nhiều lựa chọn hơn có luôn tốt hơn không? Thí nghiệm thử mứt nói: có khi nhiều quá làm người ta bỏ đi tay không. Kiểm chứng hiện nay nói: chuyện đó có xảy ra, nhưng chỉ trong vài điều kiện, và trung bình thì gần như không thấy.

2000Thí nghiệmBàn 6 loại mứt bán được nhiều hơn bàn 24 loại. Thêm đề tài bài luận và sô-cô-la.
→
2004–2010Cơn sốtSách "Nghịch lý của lựa chọn", TED, cửa hàng cắt bớt mặt hàng. "Ít là nhiều" thành khẩu hiệu.
→
2010–2025Kiểm chứng lạiGộp hàng chục thí nghiệm: trung bình gần 0, nhưng có điều kiện thì hiệu ứng hiện ra.
Phần 2

Thí nghiệm diễn ra thế nào

Một bàn thử mứt, hai thứ Bảy, và một tờ phiếu giảm giá để đếm xem ai mua thật.

Siêu thị Draeger's ở Menlo Park, California. Một bàn thử mứt Wilkin and Sons, có lúc bày 24 loại, có lúc 6 loại, đổi mỗi giờ. Khách thử mứt được phiếu giảm 1 đô la, dùng trong một tuần. Đếm số người ghé bàn và số người dùng phiếu mua mứt. 24 loại · đổi mỗi giờ hoặc 6 loại 1 · thử bao nhiêu loại tùy thích 2 · nhận phiếu giảm 1 đô la 3 · đếm ai dùng phiếu trong 1 tuần mứt Wilkin & Sons, giá 4–6 đô · siêu thị Draeger's, Menlo Park
Thiết kế đẹp cho một nghiên cứu thực địa. Bàn đổi 24 và 6 loại theo giờ, khách không biết mình đang ở trong thí nghiệm. Điểm yếu: chỉ một cửa hàng, hai ngày, và rất ít người mua (Iyengar và Lepper, 2000).
Kỳ 1

Thí nghiệm và cơn sốt

24 hay 6 loại60% ghé, 3% mua"ít là nhiều"
Kỳ 2

Khi nào nhiều lựa chọn gây hại

4 điều kiệnnhóm lại2–3 phương án
Kỳ 3

Kiểm chứng lại

phân tích gộplàm lại ở Đứcbác sĩbài học
Phần 3

Khái niệm chính

Quá tải lựa chọn

choice overloadIyengar và Lepper, 2000
Bàn 24 loại: 242 khách đi ngang, 60% ghé thử, 3% số người ghé mua mứt. Bàn 6 loại: 260 khách đi ngang, 40% ghé thử, 30% số người ghé mua mứt. BÀN 24 LOẠI · 242 khách đi ngang ghé thử 60% mua (trong số ghé) 3% BÀN 6 LOẠI · 260 khách đi ngang ghé thử 40% mua (trong số ghé) 30% thử trung bình 1,50 loại (24) · 1,38 loại (6) gần như như nhau
Nhiều lựa chọn kéo người ta lại, ít lựa chọn giúp người ta chốt. Ở cả hai bàn, khách chỉ thử khoảng 1–2 loại. Khác biệt nằm ở bước quyết định mua.

Không chỉ mứt: bài luận và sô-cô-la

studies 2 and 3cùng bài báo, 2000

Mứt · siêu thị

6 loại: 30% người ghé mua. 24 loại: 3%.

Bài luận · 193 sinh viên

Chọn từ 6 đề tài: 74% nộp bài lấy điểm cộng. Từ 30 đề tài: 60%. Bài của nhóm 6 đề cũng được chấm cao hơn một chút.

Sô-cô-la · 134 người

Chọn từ 6 viên: hài lòng hơn, 48% lấy hộp sô-cô-la thay vì 5 đô. Chọn từ 30 viên: chỉ 12%.

Ba bối cảnh, cùng một hướng. Đây là lý do bài báo thuyết phục. Nhưng cả ba đều do một nhóm làm, mẫu vừa phải.

Gộp tất cả lại: trung bình gần 0

meta-analysis · D = 0,02Scheibehenne, Greifeneder và Todd, 2010
Trục từ nhiều lựa chọn có lợi đến nhiều lựa chọn có hại. Phân tích gộp 63 điều kiện từ 50 thí nghiệm, 5.036 người: hiệu ứng trung bình D bằng 0,02, gần như bằng 0. Các nghiên cứu dao động lớn về cả hai phía. ← nhiều lựa chọn có lợi nhiều lựa chọn có hại → 0 dải xám: các nghiên cứu trải rộng về cả hai phía (minh họa) trung bình D = 0,02 63 điều kiện · 50 thí nghiệm · 5.036 người nghiên cứu đã đăng báo hay thấy "có hại" hơn nghiên cứu chưa đăng
Trung bình gần 0 không có nghĩa là "không bao giờ". Nó có nghĩa: có nơi nhiều lựa chọn có hại, có nơi có lợi, và số loại hàng một mình không đoán được kết quả.

Bốn điều kiện làm quá tải xuất hiện

moderatorsChernev, Böckenholt và Goodman, 2015
Bốn điều kiện: các lựa chọn phức tạp khó so; việc chọn khó như ít thời gian hay nhiều tiêu chí; người chọn chưa biết mình muốn gì; người chọn muốn xong nhanh, ít tốn sức. Phân tích gộp 99 quan sát, 7.202 người. 1 · khó so sánhkhông có phương ánnổi bật rõ ràng 2 · việc chọn khóít thời gian,nhiều tiêu chí 3 · chưa rõ ý mìnhkhông biết mìnhthích loại nào 4 · muốn xong nhanhchọn cho xong,không muốn tìm hiểu càng nhiều điều kiện cùng lúc, nhiều lựa chọn càng dễ gây hại 99 quan sát · 7.202 người
Cuộc họp chọn nhà cung cấp lúc 5 giờ chiều có đủ cả bốn. Đó là lúc 10 phương án làm hại nhất.

Khi nào nhiều lựa chọn không hại

expertise · categories · alternatives2008 · 2010 · 2025

Người chọn đã rành

Khi người chọn có chuyên môn hoặc sở thích rõ, nhiều lựa chọn lại có lợi (Scheibehenne và cộng sự, 2010).

Có nhóm, có nhãn

Chia hàng thành danh mục giúp người chưa quen chọn dễ và hài lòng hơn (Mogilner, Rudnick và Iyengar, 2008).

Hai phương án tốt hơn một

402 bác sĩ: có từ 2 lựa chọn thay thế, 62% chọn đổi; chỉ có 1, 44%. Thêm quá 2 thì không tốt hơn nữa (Altinger và cộng sự, 2025).
Phần 4

Kiểm chứng: tin được đến đâu

10 điều hay được nói về thí nghiệm, đối chiếu với nghiên cứu hiện nay. Bấm từng dòng để xem lý do.

VỮNGNhiều lựa chọn gây hại khi lựa chọn khó so, việc khó, người chọn chưa rõ ý mình, muốn xong nhanh

Chernev, Böckenholt và Goodman (2015) gộp 99 quan sát, 7.202 người: khi tính đến bốn điều kiện này, hiệu ứng có ý nghĩa thống kê. Đây là cách hiểu đúng nhất hiện nay.

VỮNGNgười có chuyên môn, có sở thích rõ ít bị quá tải

Trong phân tích gộp của Scheibehenne và cộng sự (2010), chuyên môn hoặc sở thích có sẵn nghiêng kết quả về phía "nhiều lựa chọn có lợi". Phân tích năm 2015 cũng thấy sở thích chưa rõ làm quá tải mạnh hơn.

THẬN TRỌNGTỷ lệ mua ở bàn 6 loại gấp 10 lần bàn 24 loại (30% so với 3%)

Đúng số liệu gốc (Iyengar và Lepper, 2000), nhưng chỉ một siêu thị, hai thứ Bảy, và số người mua rất ít (31 so với 4). Scheibehenne (2008) làm lại ở một siêu thị Đức và không thấy hiệu ứng.

THẬN TRỌNGÍt đề tài hơn thì nhiều sinh viên viết bài hơn (74% so với 60%)

Một lớp học ở Stanford, 193 sinh viên, khác biệt vừa đủ ý nghĩa thống kê. Hợp lý nhưng chưa thấy được lặp lại rộng.

THẬN TRỌNGChọn từ ít loại sô-cô-la thì hài lòng hơn

134 người trong phòng thí nghiệm: 48% nhóm 6 viên lấy sô-cô-la thay vì tiền, so với 12% nhóm 30 viên. Greifeneder (2008, trích trong phân tích gộp 2010) làm lại với sô-cô-la và không thấy khác biệt.

THẬN TRỌNGQuỹ hưu nhiều lựa chọn thì ít người tham gia

Iyengar, Huberman và Jiang (2004) xem dữ liệu gần 800.000 nhân viên: chương trình có vài quỹ có tỷ lệ tham gia cao hơn chương trình có từ 10 quỹ trở lên. Đây là số liệu quan sát, không phải thí nghiệm, nên có thể có lý do khác.

THẬN TRỌNGThêm một phương án làm người ta ngại thay đổi

Redelmeier và Shafir (1995): bác sĩ được gợi ý 1 thuốc thì 72% kê, được gợi ý 2 thuốc thì chỉ 53% kê. Nhưng một thử nghiệm ngẫu nhiên với 402 bác sĩ (Altinger và cộng sự, 2025) thấy ngược lại: có từ 2 lựa chọn, nhiều người chọn đổi hơn.

BỊ PHÊ BÌNHNhiều lựa chọn luôn làm khách không mua

Phân tích gộp 63 điều kiện, 50 thí nghiệm, 5.036 người: hiệu ứng trung bình D = 0,02, gần như bằng 0 (Scheibehenne và cộng sự, 2010). Nghiên cứu mới hơn ít thấy hiệu ứng hơn nghiên cứu cũ.

BỊ PHÊ BÌNHCứ cắt bớt mặt hàng là bán chạy hơn

Câu này đi xa hơn dữ liệu. Cùng phân tích gộp cho thấy nhiều khi nhiều lựa chọn có lợi, nhất là với khách đã biết mình muốn gì. Cắt bừa có thể mất đúng món khách cần.

BỊ PHÊ BÌNHCó một con số tối ưu, ví dụ 6 lựa chọn

Scheibehenne và cộng sự (2010) không thấy quan hệ rõ giữa số phương án trong nhóm lớn và mức hiệu ứng. Con số 6 chỉ là cách bày của một thí nghiệm.

Phần 5

Đánh giá

Thiết kế thí nghiệm gốc
3/5
Độ lặp lại của kết quả
1,5/5
Câu "ít luôn là nhiều"
1/5
Giá trị bài học
4/5
Điểm mạnh
  • Thí nghiệm thực địa, khách mua bằng tiền thật
  • Ba bối cảnh khác nhau cùng một hướng
  • Mở ra cả một hướng nghiên cứu có điều kiện rõ
Điểm yếu
  • Một cửa hàng, hai ngày, rất ít người mua
  • Nhiều lần làm lại không thấy hiệu ứng
  • Bị biến thành quy luật "ít luôn tốt hơn"

Thí nghiệm khéo, kết quả đẹp, nhưng không lặp lại đều. Giữ lấy câu hỏi "lúc nào nhiều lựa chọn gây hại", bỏ khẩu hiệu "ít luôn là nhiều".

Xem thêm: vì sao hai phân tích gộp có vẻ nói ngược nhau

Năm 2010, nhóm Scheibehenne gộp mọi thí nghiệm họ tìm được, cả đã đăng và chưa đăng, rồi tính trung bình: gần 0. Họ cũng thấy nghiên cứu đã đăng báo hay thấy hiệu ứng hơn, và nghiên cứu càng mới càng ít thấy. Đây là dấu hiệu quen thuộc của kết quả đầu tiên quá đẹp.

Năm 2015, nhóm Chernev đặt câu hỏi khác: không hỏi "trung bình bao nhiêu" mà hỏi "khi nào". Khi đưa bốn điều kiện vào mô hình, hiệu ứng hiện ra rõ. Hai kết quả không mâu thuẫn: trung bình gần 0 vì phần lớn tình huống thiếu các điều kiện ấy.

Với người đi làm, phiên bản 2015 hữu ích hơn: nó chỉ ra lúc nào nên rút gọn phương án, lúc nào cứ để nhiều cũng được.

Phần 6

Bài học áp dụng

Kỹ năng làm việc: trình phương án cho sếp, cho khách sao cho họ chốt được. Đây là gợi ý của Mark dựa trên bốn điều kiện ở trên, chưa phải kết quả thử nghiệm ở văn phòng.

Bốn bước: hỏi tiêu chí trước; lọc còn 2 đến 3 phương án thật sự khác nhau; bày cùng một bảng so sánh; nói rõ mình đề xuất phương án nào và vì sao. 1 · hỏi tiêu chí"anh ưu tiên gì?"giá, tốc độ, rủi ro 2 · lọc còn 2–3khác nhau thậtbỏ phương án "cho đủ" 3 · cùng một bảngcùng tiêu chídễ so trong 30 giây 4 · nói đề xuất"em chọn A vì…"kèm khi nào chọn B Bốn bước này đánh vào đúng bốn điều kiện gây quá tải: khó so, việc khó, chưa rõ ý, muốn xong nhanh.
Mẫu email ba dòng: "Em đề xuất A (nhanh nhất, trong ngân sách). Nếu anh ưu tiên chi phí thì B rẻ hơn 15% nhưng chậm 2 tuần. C để tham khảo. Anh chốt trước thứ Sáu giúp em." Các con số trong mẫu chỉ là ví dụ.
Lọc trước, trình sauSếp cần quyết, không cần đọc lại cả quá trình tìm hiểu của bạn.
Nhiều thì nhóm lạiDanh mục 30 món: chia 3–4 nhóm có tên, như "rẻ", "nhanh", "an toàn".
Người rành thì cho xem hếtChuyên gia đã biết mình muốn gì: danh sách dài kèm bộ lọc có khi tốt hơn.
Tình huốngNên đưaVì sao
Sếp bận, cần chốt trong buổi họp2–3 phương án + đề xuấtviệc khó, muốn xong nhanh
Khách mới, chưa rõ nhu cầuhỏi trước, rồi 2–3 góichưa rõ ý mình
Kỹ sư chọn linh kiện quen thuộcdanh sách đủ + bộ lọcngười rành ít bị quá tải
Đưa 10 phương án "cho sếp tự chọn"tránhđẩy việc lọc sang người bận nhất
Ít phương án không phải giấu bớt. Ghi một dòng "đã xem thêm X, Y, loại vì…" để người quyết biết bạn đã cân nhắc.
Người ta không ngại lựa chọn. Người ta ngại lựa chọn mà không biết so bằng cách nào.Diễn ý của Mark từ hai phân tích gộp 2010 và 2015, không phải trích nguyên văn.
Phần 7

Đọc tiếp

Sheena Iyengar, The Art of Choosing (2010)Chính tác giả thí nghiệm mứt kể lại các nghiên cứu về lựa chọn.
Barry Schwartz, The Paradox of Choice (2004)Cuốn sách làm thí nghiệm mứt nổi tiếng. Đọc kèm phần kiểm chứng ở trên.
Scheibehenne, Greifeneder và Todd, "Can there ever be too many options?" (2010)Phân tích gộp, đọc phần tóm tắt và phần thảo luận là đủ.
Daniel Kahneman, Tư duy nhanh và chậmNền chung về cách não chọn nhanh. Tập 3 của góc sách, và là cầu nối sang thí nghiệm #4.
Phần 8

Nguồn số liệu

Mọi con số trong bài, bộ ảnh Facebook và chú thích đều lấy từ các nghiên cứu dưới đây.

Iyengar và Lepper (2000)“When choice is demotivating: Can one desire too much of a good thing?”, Journal of Personality and Social Psychology 79(6), 995–1006 · Số liệu dùng: 24 và 6 loại mứt Wilkin & Sons, siêu thị Draeger's (Menlo Park), hai thứ Bảy; 242 và 260 khách đi ngang; ghé thử 60% và 40%; mua 3% (4/145) và 30% (31/104); thử trung bình 1,50 và 1,38 loại; phiếu giảm 1 đô trong 1 tuần; bài luận: 193 sinh viên, 6 và 30 đề tài, nộp 74% và 60%; sô-cô-la Godiva: 134 người, 6 và 30 viên, chọn sô-cô-la thay vì 5 đô 48% và 12%
Iyengar, Huberman và Jiang (2004)“How much choice is too much? Contributions to 401(k) retirement plans”, trong Pension Design and Structure (Mitchell và Utkus biên tập), Oxford University Press, 83–96 · Số liệu dùng: gần 800.000 nhân viên; chương trình có nhiều quỹ hơn thì tỷ lệ tham gia thấp hơn
Redelmeier và Shafir (1995)“Medical decision making in situations that offer multiple alternatives”, JAMA 273(4), 302–305 · Số liệu dùng: bác sĩ gia đình kê thuốc 72% khi có 1 thuốc, 53% khi có 2 thuốc
Scheibehenne (2008)luận án tiến sĩ về lựa chọn quá nhiều, được trích trong phân tích gộp 2010 · Số liệu dùng: làm lại thí nghiệm mứt ở một siêu thị Đức, không thấy hiệu ứng
Greifeneder (2008)nghiên cứu với sô-cô-la, được trích trong phân tích gộp 2010 · Số liệu dùng: không thấy khác biệt giữa nhóm ít và nhiều lựa chọn
Mogilner, Rudnick và Iyengar (2008)“The mere categorization effect”, Journal of Consumer Research 35(2), 202–215 · Số liệu dùng: chia danh mục giúp người chưa quen hài lòng hơn (không dùng con số)
Scheibehenne, Greifeneder và Todd (2010)“Can there ever be too many options? A meta-analytic review of choice overload”, Journal of Consumer Research 37(3), 409–425 · Số liệu dùng: 63 điều kiện, 50 thí nghiệm, 5.036 người; hiệu ứng trung bình D = 0,02; chuyên môn, sở thích rõ nghiêng về có lợi; nghiên cứu đã đăng và nghiên cứu cũ hay thấy hiệu ứng hơn; không có quan hệ rõ với số phương án
Chernev, Böckenholt và Goodman (2015)“Choice overload: A conceptual review and meta-analysis”, Journal of Consumer Psychology 25(2), 333–358 · Số liệu dùng: 99 quan sát, 7.202 người; bốn điều kiện: độ phức tạp của nhóm lựa chọn, độ khó của việc chọn, sở thích chưa rõ, mục tiêu tiết kiệm công sức
Altinger và cộng sự (2025)thử nghiệm ngẫu nhiên, JAMA Network Open 8(11), e2542949 · Số liệu dùng: 402 bác sĩ chăm sóc ban đầu; chọn phương án thay thế 62% khi có từ 2 lựa chọn, 44% khi có 1; thêm quá 2 không cải thiện thêm