The Invisible Gorilla · Daniel Simons và Christopher Chabris, Đại học Harvard
Khi đang chăm chú vào một việc, ta có thấy được một thứ lạ, to, rõ ràng ngay trước mắt không? Câu trả lời: rất thường là không. Và ta gần như không biết mình đã bỏ lỡ.
Người xem không được báo trước gì. Họ chỉ được giao một việc: đếm cho đúng.
Nhìn chưa phải là thấy. Thấy cần có chú ý đi kèm.
10 điều hay được nói về thí nghiệm gorilla, đối chiếu với nghiên cứu hiện nay. Bấm từng dòng để xem lý do.
Simons và Chabris (1999): 44% thấy gorilla, 65% thấy người cầm ô, tính chung 54% thấy vị khách bất ngờ. Hiệu ứng được làm lại rất nhiều lần, trong lớp học và trong phòng thí nghiệm, với nhiều phiên bản video khác nhau.
Trong nghiên cứu gốc, 64% người làm việc dễ thấy vị khách bất ngờ, so với 45% ở việc khó. Chabris và cộng sự (2011) thấy điều tương tự ngoài đời: tải chú ý cao hơn thì ít người thấy vụ đánh nhau hơn.
Gorilla đen được thấy 58% khi người xem theo dõi đội áo đen, 27% khi theo dõi đội áo trắng (Simons và Chabris, 1999). Most và cộng sự (2001) lặp lại quy luật này với hình trên màn hình máy tính.
Drew, Võ và Wolfe (2013): gorilla to gấp 48 lần khối u trung bình được chèn vào phim chụp phổi; 20 trên 24 bác sĩ X quang (83%) không báo thấy. 24 người không chuyên làm cùng bài thì không ai thấy.
Strayer và Johnston (2001), 48 sinh viên trên mô phỏng: xác suất bỏ sót tín hiệu đèn tăng hơn gấp đôi khi nói chuyện, cầm tay và tai nghe như nhau; nghe radio hay sách nói thì không đổi đáng kể. Nhóm của Strayer lặp lại kết quả nhiều lần sau đó.
Memmert (2006) đo mắt ở trẻ em: người sót nhìn gorilla khoảng 1 giây, như người thấy. Drew và cộng sự (2013): 12 trên 20 bác sĩ sót đã nhìn thẳng vào chỗ đó. Kết quả cùng chiều nhưng mới có ít nghiên cứu đo mắt, mẫu nhỏ.
Haynes và cộng sự (2009), 8 bệnh viện: tử vong sau mổ giảm từ 1,5% xuống 0,8%, biến chứng từ 11,0% xuống 7,0% sau khi dùng checklist của WHO. Nhưng ở Ontario, 101 bệnh viện bắt buộc dùng checklist mà gần như không đổi: 0,71% so với 0,65% (Urbach và cộng sự, 2014). Checklist chỉ giúp khi được làm thật, không phải đánh dấu cho có.
Ophir, Nass và Wagner (2009) thấy người đa nhiệm nhiều lọc nhiễu kém hơn. Phân tích gộp của Parry và le Roux (2021) với 118 phép đo chỉ thấy mối liên hệ nhỏ, và với bài đo hành vi thì gần như không còn sau khi hiệu chỉnh. Chưa rõ cái nào là nguyên nhân.
Simons (2010): người đã biết video gốc đều chờ và thấy gorilla, nhưng không thấy các điều lạ khác tốt hơn (17% so với 29%, không có ý nghĩa thống kê). Biết mình có điểm mù không xóa được điểm mù.
Kreitz và cộng sự (2015) đo nhiều năng lực nhận thức: gần như không năng lực nào dự báo ai thấy vật lạ. Chuyên gia giỏi nhất trong nghề cũng sót (Drew, 2013). Đây là đặc điểm chung của chú ý, không phải lỗi của người kém.
Một trong những thí nghiệm vững nhất của tâm lý học. Điểm trừ nằm ở cách kể, không nằm ở dữ liệu. Độ vững 9/10.
Nhiều thí nghiệm nổi tiếng đổ vì hiệu ứng nhỏ, mẫu nhỏ và cách phân tích linh hoạt. Gorilla thì khác: hiệu ứng lớn đến mức nhìn bằng mắt cũng thấy, người xem trả lời có hay không, và ai cũng có thể làm lại trong một buổi học. Nhiều nhóm nghiên cứu độc lập đã làm vậy.
Phần cần thận trọng là các tỉ lệ cụ thể. "50% không thấy" là con số của một video, một nhiệm vụ. Video khác, việc khác, người xem khác thì tỉ lệ khác. Điều vững là quy luật: chú ý càng bận, càng hẹp, thì càng sót thứ ngoài dự đoán.
Simons và Chabris nhận giải Ig Nobel năm 2004 cho thí nghiệm này, giải dành cho nghiên cứu "khiến người ta cười rồi nghĩ". Năm 2010 họ viết cuốn The Invisible Gorilla, mở rộng sang các "ảo tưởng" khác về trí nhớ, sự tự tin và hiểu biết.
Kỹ năng làm việc: làm một việc một lúc, và biết trước mình sẽ bỏ sót gì.
Mọi con số trong bài, bộ ảnh Facebook và chú thích đều lấy từ các nghiên cứu dưới đây.