Blockbuster Inc. · Dallas, Texas · 2004–2010
Nguồn: Blockbuster 10-K năm tài chính 2004 (doanh thu); 8-K ngày 23/9/2010; đơn phá sản, phụ lục A, qua Bloomberg 23/9/2010 và bài nghiên cứu của University of Tennessee College of Law (nguồn thứ cấp).
Nguồn: Blockbuster 10-K 2005, 2006, 2007; thông cáo quý 1/2007 (2/5/2007) và bài trình bày 28/6/2007 (8-K); 8-K 2/7/2007; Netflix 10-K 2007, mục cạnh tranh; Blockbuster 8-K 23/9/2010.
Một công ty doanh thu 6,1 tỷ USD, đã có dịch vụ online đang làm đối thủ chậm lại, vì sao chưa đầy 4 năm sau lại phải nộp đơn phá sản? Không phải vì không thấy Netflix tới. Mà vì một dự án dài hạn bị chấm bằng thước đo ngắn hạn, giữa lúc công ty gánh nợ và đổi người cầm lái.
Nguồn: Blockbuster 10-K 2004 (doanh thu 6,1 tỷ USD); Netflix 10-K 2007 (tăng trưởng chậm lại vì Blockbuster Online); Blockbuster 8-K 23/9/2010.
Mốc và con số lấy từ báo cáo Blockbuster nộp cho SEC; những gì chỉ có trong báo chí hay hồi ký được ghi là nguồn thứ cấp.
Nguồn: Randolph (2019) và Hastings (2020) (nguồn thứ cấp); Blockbuster 10-K 2005 (online 8/2004, 14%), 8-K thông cáo quý 2/2005 (140 triệu USD); thông cáo của Tổng chưởng lý California và New York (3/2005); hồ sơ ủy quyền Blockbuster 2005 và 2007; 10-K 2006 và thông cáo 1/11/2006; thông cáo quý 1/2007; thông cáo Netflix 16/1/2007; 8-K 2/7/2007; Netflix 10-K 2007; Blockbuster 10-K 2008; 8-K 23/9/2010; DISH 8-K 6/4/2011; thông cáo DISH 6/11/2013 (bản in lại trên Engadget, nguồn thứ cấp).
13 điều hay được kể về Blockbuster, đối chiếu với hồ sơ nộp cho SEC, thông cáo của chính các công ty và của cơ quan nhà nước. Bấm từng dòng để xem lý do.
10-K 2005: phí quá hạn chiếm khoảng 14% doanh thu cho thuê năm 2004. Thông cáo quý 2/2005: doanh thu cho thuê mất gần 140 triệu USD trong quý, phần lớn được bù bằng tăng thuê cơ bản. Cả năm 2005 doanh thu cho thuê chỉ giảm 5,0%.
Theo thông cáo của Tổng chưởng lý California và New York (3/2005): giữ quá 7 ngày thì ngày thứ 8 tự thành mua đĩa; trả lại trong 30 ngày vẫn mất phí 1,25 USD. 47 bang và DC dàn xếp; Blockbuster hoàn tiền cho khách và trả 630.000 USD phí cho các bang.
Chính Netflix ghi trong 10-K 2007: tăng trưởng thuê bao năm 2007 chậm lại chủ yếu vì Blockbuster Online mở rộng nhanh.
Netflix 10-K 2007: nửa cuối 2007 Blockbuster chuyển sang "tăng trưởng có lãi", giảm chi marketing và tăng giá Total Access. Báo cáo thường niên Blockbuster 2008 tự mô tả đã đưa Total Access thành "mảng có lãi và ổn định".
8-K 23/9/2010: kế hoạch giảm nợ từ gần 1 tỷ USD xuống khoảng 100 triệu USD hoặc ít hơn. Đơn phá sản ghi nợ khoảng 1,46 tỷ USD so với tài sản khoảng 1,02 tỷ USD (qua Bloomberg và University of Tennessee College of Law). Kiểm toán viên đã cảnh báo từ báo cáo 2008.
Đây là lời kể của hai nhà sáng lập Netflix trong sách của họ. Antioco nói không có đàm phán nghiêm túc. Một số nguồn nói đề nghị là 49% cổ phần, không đủ chứng cứ. Không có tài liệu gốc.
Hình ảnh này đến từ hồi ức của Marc Randolph (2019), được báo chí lặp lại. Không có nhân chứng thứ ba hay biên bản.
Cạnh tranh từ Netflix là thật (Netflix có 20,01 triệu thuê bao cuối 2010 theo 10-K của họ). Nhưng còn ki-ốt cho thuê giá rẻ, phim xem ngay, nợ, và các quyết định nội bộ. Keyes thì đổ cho điều khoản thanh toán của hãng phim; đó là quan điểm của ông.
Câu "chưa nằm trong tầm radar" là có thật (Motley Fool, 10/12/2008). Nhưng ông nói Wal-Mart và Apple mới là mối lo, và cùng năm 2007 công ty đã mua Movielink để tải phim. Một câu nói không phải cả chiến lược.
Nhìn lại thì dễ nói. Total Access lỗ thật: quý 1/2007 lỗ ròng 46,4 triệu USD. Bài học không phải "đáng lẽ chi bao nhiêu cũng được", mà là đo dự án dài hạn bằng thước đo nào và quyết định dừng theo mốc nào.
Hồ sơ cho thấy ngược lại: thuê online 8/2004, bỏ phí trả trễ 1/1/2005, Total Access 1/11/2006, mua Movielink năm 2007 với 7,7 triệu USD (10-K 2005, 2006, 2007; 8-K phụ lục 99.2).
Có thuê đĩa online với hơn 3 triệu thuê bao (quý 1/2007) và Movielink để tải phim, đang tích hợp vào Blockbuster.com (10-K 2007). Vấn đề là quy mô và sự kiên trì, không phải không có.
DISH mua lại tài sản 4/2011 (khoảng 320 triệu USD), cửa hàng công ty đóng hết vào đầu 2014. Một cửa hàng nhượng quyền ở Bend, Oregon vẫn mang tên Blockbuster (AP, 2019, nguồn thứ cấp).
Nguồn: các tài liệu ghi trong từng dòng; danh sách đầy đủ ở Phần 8.
Điểm là đánh giá của Mark dựa trên các nguồn ở Phần 8, không phải số liệu của một nghiên cứu.
Blockbuster không thua vì không thấy tương lai. Họ thấy, đã chạy, và đang dẫn ở một chặng. Họ thua vì đổi thước đo giữa đường khi dự án chưa kịp có lãi.
Thị trường thuê đĩa tại cửa hàng co lại là chuyện của cả ngành, không riêng Blockbuster. Không có quyết định nào giữ được 6,1 tỷ USD doanh thu từ cửa hàng.
Cái tránh được là cách rơi: một công ty đang có lượng thuê bao online lớn và được đối thủ thừa nhận là mối đe dọa, lẽ ra có thể chuyển mình thay vì đi vào phá sản với nợ lớn hơn tài sản.
Nguồn phần "Xem thêm": Blockbuster 10-K 2004 (6,1 tỷ USD); Netflix 10-K 2007; đơn phá sản qua Bloomberg (nguồn thứ cấp); phần còn lại là nhận xét của Mark.
Áp dụng cho mọi dự án "tốn trước, thu sau": sản phẩm mới, kênh bán mới, đào tạo đội, chuyển đổi số, cả kế hoạch học của chính bạn.
| Tự kiểm tra trong nhóm (5 phút) | Có | Chưa |
|---|---|---|
| Dự án dài hạn của nhóm có bảng điểm riêng, khác bảng điểm của việc đang hái ra tiền? | ☐ | ☐ |
| Mốc dừng (tiền, thời gian, chỉ số) đã viết ra và có người ký? | ☐ | ☐ |
| Có ít nhất 1 chỉ số dẫn đường được xem mỗi tháng, không chỉ lợi nhuận? | ☐ | ☐ |
| Nếu mai đổi trưởng nhóm, người mới có một trang để đọc lý do dự án? | ☐ | ☐ |
| Nhóm có đủ "đường băng" (tiền, thời gian) để chờ dự án đến mốc đầu tiên? | ☐ | ☐ |
Ba ô "Chưa" trở lên: dự án dài hạn của bạn đang được chấm bằng thước đo ngắn hạn.
Ưu tiên tài liệu gốc: báo cáo nộp cho SEC, hồ sơ phá sản, thông cáo của chính công ty và của cơ quan nhà nước. Trong lúc làm bài, sec.gov không mở trực tiếp được; các trích đoạn được đối chiếu qua công cụ tìm kiếm, ghi rõ ở bản nghiên cứu.