STS-51-L · 28/1/1986 · Trung tâm vũ trụ Kennedy, Florida
Nguồn: Báo cáo Ủy ban Rogers (1986), chương 4–6; số chuyến bay từ Dalal, Fowlkes và Hoadley (1989), bảng 1.
Một tổ chức toàn kỹ sư giỏi, biết rõ điểm yếu từ 9 năm trước, có kỹ sư phản đối ngay đêm trước, vì sao vẫn bấm nút phóng? Câu trả lời không nằm ở một người, mà ở cách cả tổ chức quen dần với rủi ro.
Mọi mốc thời gian dưới đây lấy từ chương 3 báo cáo Ủy ban Rogers.
Nguồn: Báo cáo Ủy ban Rogers, chương 5 (cuộc họp, băng trên bệ phóng), chương 6 (thử nghiệm 1977, bản ghi nhớ, chuyến 51-C) và chương 7.
13 điều hay được kể về Challenger, đối chiếu với hồ sơ gốc. Bấm từng dòng để xem lý do.
Kết luận đồng thuận của Ủy ban Rogers (chương 4), có ảnh khói ở giây 0,678 và lửa ở giây 58,8 tại đúng vị trí đó.
Thử nghiệm 1977, các bản ghi nhớ 1978–1979 gọi thiết kế "không thể chấp nhận", gioăng hư trên 7 trong 23 chuyến có thu hồi tên lửa đẩy (Rogers, chương 6).
Ghi trong chương 5, kèm lời khai của Boisjoly: "không nên bay ra ngoài vùng dữ liệu của mình, tức 53 độ".
Kế hoạch 24 chuyến mỗi năm, linh kiện phải tháo từ tàu khác, thời gian huấn luyện bị ép (Rogers, chương 8). Vaughan gọi đó là "văn hóa sản xuất".
Họ được nghe hàng giờ, và phía NASA nói sẽ không phóng nếu Thiokol phản đối. Điều xảy ra là chính lãnh đạo Thiokol đổi ý sau cuộc họp riêng, và gánh chứng minh bị đảo ngược. Kỹ sư Bob Ebeling sau này nói ông "lẽ ra đã có thể làm nhiều hơn".
Edward Tufte (1997) nói có. Một bài phản biện năm 2002 do chính Boisjoly đồng tác giả nói các kỹ sư không có đủ dữ liệu nhiệt độ dù đã xin, trục nhiệt độ của Tufte trộn nhiệt độ gioăng với nhiệt độ không khí, và vấn đề cốt lõi là gánh chứng minh, không phải hình vẽ. Đây là tranh cãi chưa ngã ngũ.
Các kênh truyền hình lớn đã cắt sóng trước khi phóng; CNN phát trực tiếp, và NASA truyền vệ tinh tới các trường học vì chương trình "Giáo viên vào vũ trụ". Nhiều học sinh xem trực tiếp thật, nhưng phần lớn người Mỹ xem phát lại. Không tìm thấy khảo sát gốc cho các con số phần trăm hay được trích.
Không có vụ nổ theo nghĩa kíp nổ hay sóng xung kích. Bình nhiên liệu ngoài vỡ, tàu bị lực khí động học xé tan, nhiên liệu cháy bùng. Nói "vỡ tan" chính xác hơn.
Báo cáo của bác sĩ Kerwin (7/1986): 3 trong 4 bình khí thở khẩn cấp tìm được đã được bật bằng tay, nên ít nhất vài người còn sống và hành động sau khi tàu vỡ. Nhưng họ "có thể, nhưng không chắc chắn" đã bất tỉnh vài giây sau đó. Không xác định được khoang có mất áp hay không.
Màn thả gioăng vào cốc nước đá trên truyền hình là của ông. Nhưng gợi ý ban đầu đến từ tướng Donald Kutyna, và sau khi Sally Ride mất (2012), Kutyna kể chính bà đã đưa ông tài liệu NASA về gioăng cứng lại khi lạnh. (Nguồn thứ cấp: lời kể của Kutyna.)
Khoang phi hành đoàn tách ra gần như nguyên vẹn, gia tốc lúc vỡ khoảng 12–20 G, "có thể sống sót được". Khoang rơi khoảng 2 phút 45 giây trước khi chạm biển. Nguyên nhân tử vong "không thể xác định chắc chắn" (Kerwin).
Ủy ban đã điều tra tin đồn này. Những người liên quan khẳng định không có kế hoạch kết nối trực tiếp nào, và quyết định phóng do quan chức NASA đưa ra "không có bất kỳ can thiệp hay áp lực nào từ bên ngoài" (Rogers, chương 8).
Một tin đồn lâu năm trên mạng. Nhà báo không gian James Oberg, người tổng hợp các lời đồn về Challenger, gọi việc đổi chất trám là "không liên quan đến thảm họa".
Điểm là đánh giá của Mark dựa trên các nguồn ở Phần 8, không phải số liệu của một nghiên cứu.
Thảm họa có thể tránh được nhất của chương trình vũ trụ Mỹ, vì mọi thông tin cần thiết đều đã nằm trong phòng họp đêm trước.
Năm 2003, tàu Columbia vỡ khi trở về vì một mảnh bọt cách nhiệt va vào cánh lúc phóng. Bọt rơi cũng là chuyện đã xảy ra nhiều lần và dần được coi là bình thường. Ủy ban điều tra Columbia viết: "lịch sử các quyết định kỹ thuật về bọt và về gioăng có quỹ đạo giống hệt nhau", và kỹ sư lại bị yêu cầu chứng minh chuyến bay "không an toàn".
Vaughan làm việc trong nhóm điều tra Columbia. Bà kết luận NASA đã "học bài học không đầy đủ" từ Challenger: sửa được cái gioăng, nhưng không sửa được áp lực và cấu trúc khiến tín hiệu nguy hiểm bị nhờn đi.
Áp dụng cho mọi cuộc họp "làm hay không làm": ra mắt sản phẩm, đẩy code lên production, ký hợp đồng.
Ưu tiên tài liệu gốc. Chỗ nào chỉ có nguồn thứ cấp đã ghi rõ ở phần Kiểm chứng.