The New Psychology of Success · Carol S. Dweck · bản tiếng Việt: Tâm lý học thành công
Điều bạn tin về năng lực của chính mình quan trọng hơn năng lực ban đầu, vì niềm tin ấy quyết định bạn có chịu học hay không.
Sách có 8 chương, không chia phần. Mark gom thành 4 nhóm theo chủ đề.
| Khi gặp… | Tư duy cố định | Tư duy phát triển |
|---|---|---|
| Thử thách | Né, sợ lộ điểm yếu | Nhận, để học thêm |
| Trở ngại | Bỏ cuộc sớm | Đổi cách, làm tiếp |
| Nỗ lực | Dấu hiệu kém cỏi | Con đường tới giỏi |
| Phê bình | Bỏ ngoài tai | Lấy làm dữ liệu |
| Người khác thành công | Thấy bị đe dọa | Thấy được truyền cảm hứng |
Ai cũng là hỗn hợp của cả hai. Dweck nói về xu hướng trong từng lĩnh vực, không phải hai loại người.
| Sau một bài dễ, trẻ lớp 5 được khen… | "Con thông minh quá" | "Con đã rất cố gắng" |
|---|---|---|
| Chọn bài tiếp theo | Đa số chọn bài dễ | Khoảng 90% chọn bài khó |
| Gặp bài khó | Hết hứng, nghĩ mình dở | Vẫn thích, cố tiếp |
| Bài cuối (dễ lại) | Điểm giảm | Điểm tăng |
| Kể điểm cho bạn khác | Gần 40% nói dối | Ít hơn hẳn |
Số liệu theo sách. Một số nhóm làm lại không ra kết quả mạnh như vậy (xem phần Dẫn chứng).
Bản 2016 gợi ý đặt tên cho "nhân vật cố định" trong đầu để dễ nhận ra khi nó lên tiếng.
10 luận cứ hay được trích dẫn nhất. Bấm vào từng dòng để xem lý do.
Thang đo "lý thuyết ngầm về trí tuệ" của Dweck được dùng rộng rãi, kết quả ổn định.
Tính dẻo của não là đồng thuận của khoa học thần kinh. Điều này không có nghĩa là luyện gì cũng thành.
Thử nghiệm toàn quốc Mỹ (Yeager và cộng sự, Nature 2019, hơn 12.000 học sinh): nhóm học lực thấp tăng khoảng 0,1 điểm GPA. Có thật, nhưng nhỏ.
OECD, PISA 2018: đúng ở đa số quốc gia. Đây là tương quan, không chứng minh nhân quả.
Nghiên cứu gốc (Mueller & Dweck, 1998) có mẫu nhỏ. Li & Bates (2019) làm lại ba lần, không tìm thấy hiệu ứng của lời khen hay của tư duy lên phản ứng với thất bại.
Nghiên cứu sóng não năm 2006 (Mangels và cộng sự) có mẫu nhỏ, chưa được lặp lại quy mô lớn.
Ví dụ được chọn sau khi đã biết kết cục. Khó tách vai trò của tư duy khỏi thị trường, may rủi và nhiều yếu tố khác.
Năm lớp 10 ông được xếp vào đội trẻ (JV), không bị loại hẳn. Câu chuyện vẫn đúng tinh thần nhưng đã được kể quá tay.
Tổng hợp 273 nghiên cứu (Sisk và cộng sự, 2018): tương quan giữa tư duy và thành tích chỉ khoảng r = 0,10. Một nghiên cứu 5.600 thí sinh Séc (Bahník & Vranka, 2017) gần như không thấy liên hệ.
Hiệu ứng trung bình d ≈ 0,08 (2018), gần 0 khi lọc nghiên cứu chất lượng cao và tính thiên lệch công bố (Macnamara & Burgoyne, 2023). Nhóm của Dweck phản biện rằng hiệu ứng có thật ở đúng đối tượng và bối cảnh.
Giữ lại cách nhìn thất bại và cách khen. Đừng coi nó là công thức thành công.
Từ khoảng 2016, tư duy phát triển trở thành ví dụ quen thuộc trong cuộc "khủng hoảng lặp lại" của tâm lý học. Các tổng hợp lớn cho thấy hiệu ứng nhỏ hơn nhiều so với kỳ vọng ở trường học. Dweck thừa nhận nhiều trường áp dụng sai (khen nỗ lực suông, dán poster) và gọi đó là "tư duy phát triển giả". Nhóm của bà, qua thử nghiệm toàn quốc năm 2019, cho rằng hiệu ứng nhỏ nhưng thật và rẻ, nhất là với học sinh đang gặp khó.
Đổi câu nói trước, thói quen sẽ đi theo.
| Khi… | Thay vì nói | Hãy thử |
|---|---|---|
| Con được điểm cao | "Con thông minh quá" | "Con ôn kỹ phần nào thế?" |
| Mình làm hỏng việc | "Mình không hợp việc này" | "Lần sau đổi bước nào?" |
| Chưa làm được | "Mình không làm được" | "Mình chưa làm được" |
| Bị góp ý | "Họ không hiểu mình" | "Điểm nào đúng thì sửa" |
| Đồng nghiệp giỏi hơn | "Họ may mắn" | "Họ làm khác mình ở đâu?" |