Sách viết bằng tiếng Việt · Mai Tường Vân
Siêu trí nhớ không phải phép màu. Đó là một chuỗi kỹ thuật ai cũng học được: biến thông tin thành hình ảnh, nối các hình với nhau, rồi đặt chúng vào một nơi quen thuộc.
Ba chương, nặng nhất là chương 2 và 3. Tỷ lệ dưới đây là ước lượng theo mục lục.
Bốn kỹ thuật chồng lên nhau: cung điện chỉ chạy tốt khi đã có hình (1), hình biết "nói chuyện" (2) và bảng mã sẵn (3).
| Thử thách trong sách | Ghép những kỹ thuật nào | Dùng ngoài đời |
|---|---|---|
| Bộ bài 52 lá | mã hóa + cung điện | mã PIN, số tài khoản |
| Dãy số nhị phân | đổi 3 bit thành 1 chữ số, rồi mã hóa | dãy số dài |
| 100 mã QR và 100 gương mặt | tưởng tượng + liên kết | nhớ tên người mới gặp |
| Hình trừu tượng, ảnh thật | tìm chi tiết lạ, gán hình | ít dùng |
| Từ vựng, bài văn | từ khóa hình ảnh + cung điện | học thi, học ngoại ngữ |
Tác giả cho biết sau khoảng ba tháng luyện, chị nhớ 1.000 chữ số trong 58 phút và một bộ bài trong khoảng 2 phút.
Các ý chính của sách đối chiếu với nghiên cứu về trí nhớ. Bấm từng dòng để xem lý do.
Dresler và cộng sự (Neuron, 2017): người chưa từng luyện tập 30 phút mỗi ngày trong 6 tuần, số từ nhớ được tăng từ khoảng 26 lên 62 trên 72, và vẫn giữ được phần lớn sau 4 tháng.
Maguire và cộng sự (2003) chụp não 10 người nhớ siêu hạng: trí thông minh và cấu trúc não bình thường. Khác biệt là họ dùng chiến lược không gian, 9 trên 10 người dùng cung điện.
Phân tích gộp hơn 300 thí nghiệm (Cepeda và cộng sự, 2006). Dunlosky và cộng sự (2013) xếp ôn ngắt quãng và tự kiểm tra vào nhóm "hiệu quả cao".
Richards và Frankland (Neuron, 2017): quên giúp bỏ chi tiết thừa để khái quát hóa tốt hơn. Đường cong quên của Ebbinghaus đã được lặp lại năm 2015.
Tế bào vị trí và tế bào lưới ở hồi hải mã và vùng lân cận, giải Nobel Y học 2014 (O'Keefe, May-Britt và Edvard Moser).
Hiệu ứng có thật khi hình lạ nằm lẫn giữa hình thường, nhưng yếu đi khi mọi thứ đều lạ (McDaniel và Einstein, 1986). Yếu tố chắc hơn là các hình tương tác với nhau.
Giúp nhớ nhanh ngay sau khi học (Atkinson và Raugh, 1975), nhưng có nghiên cứu thấy sau một tuần lại quên nhanh hơn học thường nếu không ôn (Wang và Thomas, 1995). Dunlosky (2013) xếp vào nhóm "hiệu quả thấp" cho việc học nói chung.
Đây là kết quả của chính tác giả, với một huấn luyện viên. Nghiên cứu cho thấy ai cũng tiến bộ, nhưng tốc độ khác nhau nhiều. Chuẩn bị thi thế giới thường mất vài giờ mỗi ngày trong nhiều tháng.
Theo một bài điểm sách, sách định nghĩa như vậy. Tâm lý học chỉ tính ngắn hạn trong vài giây đến khoảng 30 giây, giữ được chừng 4 đến 7 mục. Thứ còn sau vài tuần đã là trí nhớ dài hạn.
Không có trong sách như một lời hứa, nhưng người đọc dễ hiểu vậy. Kỹ năng rất hẹp: người tập nhớ 80 chữ số (Ericsson và Chase, 1980) vẫn chỉ nhớ khoảng 6 chữ cái. Dân thi trí nhớ vẫn quên chìa khóa như ai.
Đọc chương 2 và làm bài tập. Dùng kỹ thuật cho thứ cần nhớ nguyên văn, đừng dùng thay cho việc hiểu bài.
Một bài điểm sách so cuốn này với Moonwalking with Einstein của Joshua Foer và thấy nó mỏng hơn về nền khoa học, có chỗ đơn giản hóa đến mức thiếu chính xác. Sách cũng bỏ qua trí nhớ sự kiện và trí nhớ kỹ năng, hai loại liên quan trực tiếp đến cung điện trí nhớ và việc học.
Joshua Foer, vô địch trí nhớ Mỹ 2006, viết rằng sau cuộc thi ông hầu như không dùng các kỹ thuật này, vì đã có giấy và điện thoại. Kỹ thuật thật sự hữu ích ở những chỗ hẹp: từ vựng, công thức, bài phát biểu, tên người.
Với học sinh, lợi ích lớn nhất có lẽ đến từ thứ sách nói ít hơn: tự kiểm tra và ôn ngắt quãng. Hai cách này hiệu quả với mọi môn, kể cả phần cần hiểu.
Một vòng học 20 từ tiếng Anh mới, gộp cả bốn kỹ thuật và lịch ôn.