Mark ở vũ trụ khác Bài báo đổi cách ta học #5 · Học tập · Bộ nhớ làm việc

Tải nhận thức

John Sweller · "Cognitive load during problem solving: Effects on learning" · Cognitive Science 12(2), 257–285 · 1988

Ai, ở đâunhà tâm lý giáo dục John Sweller, Đại học New South Wales (Sydney, Úc)
Ý chínhgiải bài theo kiểu nhắm thẳng đáp số chiếm chỗ của việc học
Bài họcngười mới nên học từ bài giải mẫu trước khi tự giải
NhãnThận trọng: ý chính có ích, nhưng "tải" khó đo

Nguồn: Sweller (1988), Cognitive Science 12(2), 257–285; hồ sơ Sweller trên trang Đại học New South Wales (UNSW). Môi trường làm bài chặn trang tạp chí, nên bài gốc được đối chiếu qua trích đoạn trong kết quả tìm kiếm, chưa mở toàn văn.

Đọc lại trong 1 phút

Tinh hoa

Giải được, chưa chắc học đượcNgười giải đến được đáp số, nhưng rất ít người nhận ra quy luật đằng sau.
Bàn làm việc chậtNhắm thẳng đáp số buộc đầu óc giữ đích, chỗ đang đứng, khoảng cách, đích phụ. Hết chỗ để học.
Bài giải mẫuĐi theo từng bước có sẵn, đầu óc rảnh để thấy cấu trúc. Phân tích gộp 2023 về môn toán: tác dụng mức vừa.
Không phải cho mọi ngườiNgười đã giỏi học từ bài mẫu lại kém hơn tự giải: hiệu ứng đảo ngược theo trình độ.
Khó đo"Tải" thường đo bằng bảng tự chấm. Các loại tải chồng lên nhau, các nhà nghiên cứu còn tranh luận.

Nguồn: Sweller kể lại thí nghiệm đầu thập niên 1980 trong Sweller (2023), Educational Psychology Review 35:95; tóm tắt Sweller (1988); Barbieri và cộng sự (2023), Educational Psychology Review 35 (g = 0,48); Kalyuga, Ayres, Chandler và Sweller (2003), Educational Psychologist 38(1); de Jong (2010), Instructional Science 38(2).

Phần 1

Câu hỏi của bài báo

Vì sao giải thật nhiều bài tập chưa chắc làm ta giỏi lên? Sweller trả lời: vì lúc cố đi đến đáp số, đầu óc bận đến mức không còn chỗ để học cách giải.

Nguồn: tóm tắt Sweller (1988). Câu hỏi là cách Mark đặt lại ý chính của bài.

đầu thập niên 1980Một câu đố sốNgười giải tới đích, nhưng hiếm ai thấy quy luật.
→
1988Bài báoGiải kiểu nhắm đích chiếm chỗ của việc học "sơ đồ" (cách giải).
→
đến nayBài giải mẫuThành lời khuyên dạy học, kèm giới hạn: người giỏi thì khác.
Phần 2

Câu chuyện phát hiện

Ai làm, ở đâu, làm thế nào, và thời đó người ta nghĩ gì về giải bài tập.

Câu đố biến số mà Sweller kể lại: từ một số đầu đi đến số đích, chỉ được nhân 3 hoặc trừ 69. Các số được chọn để chỉ có một lời giải: xen kẽ hai phép. Người giải tới được đích, nhưng rất ít người nhận ra quy luật xen kẽ. câu đố biến số (Sweller kể lại) số đầu số đích × 3 − 69 × 3 − 69 luật ẩn: xen kẽ hai phép. Đây là lời giải duy nhất. kết quả: người giải tới được đích, nhưng rất ít người nhận ra luật xen kẽ sơ đồ minh họa; không ghi số đầu, số đích cụ thể vì không có trong nguồn đã đối chiếu
Giải được mà không học được. Sweller kể: các số được chọn để chỉ có một lời giải, và "rất ít" người tìm ra quy luật xen kẽ hai phép tính. Ông rút ra: giải bài theo kiểu nhắm đích là để tới đích, không phải để học.Nguồn: Sweller (2016), "Story of a Research Program", và Sweller (2023), Educational Psychology Review 35:95, kể lại nghiên cứu gốc Sweller, Mawer và Howe (1982), American Journal of Psychology 95, 455–483. Mark dịch.
1969–1972 · AdelaideJohn Sweller học cử nhân rồi tiến sĩ tâm lý học ở Đại học Adelaide, sau đó làm ở Đại học New South Wales (UNSW), Sydney.
1972 · Phân tích "phương tiện, mục đích"Newell và Simon mô tả cách người ta giải bài: nhìn khoảng cách từ chỗ đang đứng tới đích, tìm bước rút ngắn nó (means-ends analysis).
1980 · Chuyên gia khác người mớiNghiên cứu giải bài vật lý: người mới đi ngược từ đích và đặt đích phụ; chuyên gia đi xuôi nhờ các "sơ đồ" có sẵn trong đầu.
Đầu thập niên 1980 · Câu đố biến sốChỉ nhân 3 và trừ 69. Tới đích được, hiếm ai thấy luật.
1985 · Bài giải mẫuSweller và Cooper cho người học đại số xem bài mẫu thay vì tự giải: học nhanh hơn, giải bài cùng dạng sau đó nhanh hơn, ít lỗi hơn.
1988 · Bài báoGom tất cả thành một lời giải thích: giải kiểu nhắm đích làm đầy bộ nhớ làm việc.

Nguồn: hồ sơ Sweller trên trang UNSW; năm học vị theo hồ sơ ATD (nguồn thứ cấp); Newell và Simon (1972), Human Problem Solving; Larkin, McDermott, Simon và Simon (1980), Science 208; Sweller (2023); Sweller và Cooper (1985), Cognition and Instruction 2(1), 59–89, theo tóm tắt bài báo.

Phần 3

Bài báo nói gì, trong 3 câu

  1. Khi giải bài theo kiểu nhắm đích, ta phải giữ cùng lúc trong đầu: đích, chỗ đang đứng, khoảng cách giữa hai chỗ và các đích phụ.
  2. Việc đó ngốn phần lớn bộ nhớ làm việc, nên chỗ còn lại để học "sơ đồ" (nhận ra dạng bài và cách giải) rất ít.
  3. Vì thế cách dạy bớt việc nhắm đích, như bài không có đích cụ thể hay bài giải mẫu, có thể giúp người mới học nhanh hơn.
"Giải bài thông thường theo kiểu phân tích phương tiện và mục đích đòi hỏi một lượng năng lực xử lý tương đối lớn, nên phần năng lực đó không còn cho việc hình thành sơ đồ."Sweller (1988), tóm tắt bài báo, Mark dịch.
Hai bàn làm việc cùng cỡ. Bàn bên trái là giải kiểu nhắm đích: đầy các khối đích, chỗ đang đứng, khoảng cách, đích phụ, đích phụ nữa; khối "học cách giải" bị rơi ra ngoài. Bàn bên phải là bài giải mẫu hoặc bài không có đích cụ thể: chỉ có bước đang xem, còn chỗ cho khối "học cách giải". giải kiểu nhắm đích bài giải mẫu / bài không có đích cụ thể đích đang ở đâu khoảng cách đích phụ đích phụ nữa học cách giải bước đang xem học cách giải sơ đồ minh họa ý của bài, không có số; bàn = bộ nhớ làm việc có hạn
Cùng một cái bàn, hai cách dùng. Bài 1988 dùng một mô hình mô phỏng trên máy tính để so hai cách giải cùng một bài: cách nhắm đích cần giữ nhiều thông tin hơn trong bộ nhớ làm việc và một bộ luật xử lý phức tạp hơn nhiều. Các thí nghiệm trong bài cho thấy người giải có đích cụ thể vẫn giải được bài, nhưng học được cấu trúc bài kém hơn.Nguồn: Sweller (1988), phần mô hình máy tính và phần thí nghiệm, đối chiếu qua trích đoạn trong kết quả tìm kiếm. Bài viết không ghi số người tham gia hay số lỗi vì chưa đối chiếu được với bảng số liệu gốc.
Phần 4

Bài báo này được đánh giá thế nào

Mỗi dòng ghi nguồn và ngày tra.

Nơi đăng, nămCognitive Science, tập 12 số 2, trang 257–285, năm 1988. Tạp chí của Hội Khoa học Nhận thức, có bình duyệt.
Số lần trích dẫnHơn 8.500 lần theo Semantic Scholar (tra 15/10/2026, qua trang Semantic Scholar hiện trong kết quả tìm kiếm). Google Scholar: chưa tra được (môi trường làm bài bị chặn). Các cơ sở dữ liệu đếm khác nhau.
Đã lặp lại chưaÝ "bài giải mẫu giúp người mới" được lặp lại nhiều lần. Phân tích gộp năm 2023 về môn toán (43 bài, 55 nghiên cứu): tác dụng mức vừa, g = 0,48. Ý "bài không có đích cụ thể" ít được kiểm tra hơn.
Phản biện chínhTon de Jong (2010): khái niệm chưa rõ, khó đo, dễ giải thích sau khi đã có kết quả. Phân tích gộp 2022 về bảng hỏi đo tải: đo ổn định, nhưng tương quan giữa các loại tải có chỗ trái với lý thuyết. Manu Kapur và cộng sự: để người học thử giải trước rồi mới dạy có thể giúp hiểu khái niệm hơn.
Vị trí trong giáo dụcBộ Giáo dục bang New South Wales (Úc) ra tài liệu năm 2017 "nghiên cứu giáo viên thật sự cần hiểu" về lý thuyết này. Sweller là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Úc.
Kết luậnTHẬN TRỌNG Ý cốt lõi đứng vững với người mới học; khái niệm "tải" khó đo và tác dụng đảo ngược với người đã giỏi.

Nguồn: trang Semantic Scholar của bài (tra 15/10/2026); Barbieri, Miller-Cotto, Clerjuste và Chawla (2023), Educational Psychology Review 35; de Jong (2010), Instructional Science 38(2), 105–134; Krieglstein và cộng sự (2022), Educational Psychology Review; Sinha và Kapur (2021), Review of Educational Research; CESE, Bộ Giáo dục NSW (2017); hồ sơ Sweller trên trang UNSW. Nhãn là đánh giá của Mark.

Phần 5

Kiểm chứng: điều đúng và lời đồn

12 điều hay được nói về bài báo và lý thuyết tải nhận thức. Bấm từng dòng để xem lý do.

VỮNGNgười mới học từ bài giải mẫu tốt hơn tự giải từ đầu

Sweller và Cooper (1985) với đại số; phân tích gộp Barbieri và cộng sự (2023): 55 nghiên cứu về toán, g = 0,48, mức vừa. Ví dụ đúng một mình cho tác dụng lớn hơn ví dụ sai hay trộn đúng sai.

VỮNGGiải được bài chưa chắc đã học được cách giải

Câu đố nhân 3, trừ 69: tới đích được nhưng rất ít người thấy luật xen kẽ (Sweller kể lại, 2016 và 2023, về Sweller, Mawer và Howe 1982). Bài 1988: người giải có đích cụ thể học cấu trúc bài kém hơn.

VỮNGBài 1988 nói: giải kiểu nhắm đích chiếm chỗ của việc học

Đúng là nội dung của tóm tắt bài báo: năng lực xử lý dùng cho phân tích phương tiện và mục đích "không còn cho việc hình thành sơ đồ".

VỮNGLý thuyết đã đi vào tài liệu cho giáo viên

Bộ Giáo dục bang New South Wales, Trung tâm Thống kê và Đánh giá Giáo dục (CESE), 2017: "Cognitive load theory: Research that teachers really need to understand".

THẬN TRỌNG"Bài 1988 chứng minh bằng thí nghiệm lớn trong lớp học"

Bằng chứng trong bài là một mô hình mô phỏng trên máy tính và các thí nghiệm giải bài có kiểm soát. Bằng chứng từ nhiều lớp học thật đến sau, qua các phân tích gộp.

THẬN TRỌNG"Tải nhận thức đo được chính xác"

Thường đo bằng bảng hỏi tự chấm mức cố gắng. de Jong (2010) chê khó đo và khó tách các loại tải. Phân tích gộp 2022: bảng hỏi đo ổn định, nhưng tương quan giữa các loại tải có chỗ trái với lý thuyết.

THẬN TRỌNG"Để học sinh tự vật lộn với bài trước là phí thời gian"

Sinha và Kapur (2021), 53 nghiên cứu: thử giải trước rồi mới học có thể giúp hiểu khái niệm khi được thiết kế đúng; với kỹ năng làm theo bước thì ngang nhau. Ashman, Kalyuga và Sweller (2020): bài càng nhiều yếu tố đan vào nhau, dạy rõ trước càng tốt hơn. Tùy bài và tùy người học.

THẬN TRỌNG"Bộ nhớ làm việc giữ được 7 thứ"

Con số 7 của Miller (1956) đã bị xem lại: Cowan (2001) cho rằng gần 4 cụm. Xem Bài báo đổi cách ta học #2. Lý thuyết tải chỉ cần ý "bộ nhớ làm việc có hạn".

THẬN TRỌNG"Bài 1988 là toàn bộ lý thuyết tải nhận thức"

Bài 1988 là hạt giống. Ba loại tải và "tải hữu ích" được thêm năm 1998 (Sweller, van Merriënboer và Paas), hiệu ứng đảo ngược theo trình độ năm 2003, cập nhật lớn năm 2019. Sweller (2023) viết rằng các lần lặp lại thất bại đã buộc lý thuyết phải chi tiết hơn.

THẬN TRỌNG"Đây là điều quan trọng nhất giáo viên cần biết"

Dylan Wiliam viết câu này trên Twitter ngày 26/1/2017 (nguồn thứ cấp: các blog nhúng lại bài đăng). Có thật là ông nói, nhưng đó là ý kiến. Một bài trên trang Chartered College of Teaching gọi đây là nhận định táo bạo.

SAI"Bài giải mẫu luôn tốt hơn, với mọi người"

Kalyuga, Ayres, Chandler và Sweller (2003): kỹ thuật rất có ích với người mới có thể mất tác dụng, thậm chí phản tác dụng với người đã có kinh nghiệm. Người giỏi nên chuyển sang tự giải.

SAI"Học càng nhẹ đầu càng tốt"

Lý thuyết bảo bớt phần tải thừa (cách trình bày rối, việc không liên quan), không bảo bớt mọi cố gắng. Từ 1998 lý thuyết có cả "tải hữu ích". Tự kiểm tra (bài #6) cũng là việc tốn sức mà giúp nhớ lâu.

Nguồn: như ghi trong từng dòng; danh sách đầy đủ ở phần Nguồn.

Phần 6

Nghiên cứu mới nhất nói gì

2019 · "20 năm sau"Sweller, van Merriënboer và Paas tổng kết lại lý thuyết sau hai thập kỷ và đặt hướng nghiên cứu mới (Educational Psychology Review 31, 261–292).
2021 · Thử trước, học sauSinha và Kapur gộp 53 nghiên cứu, 166 so sánh: thử giải trước rồi mới học có lợi cho hiểu khái niệm khi được thiết kế đúng (Review of Educational Research).
2022 · Đo tải bằng bảng hỏiPhân tích gộp 4 bảng hỏi phổ biến: độ ổn định đạt, nhưng quan hệ giữa các loại tải có chỗ không khớp lý thuyết (Educational Psychology Review).
2023 · Bài giải mẫu trong môn toánBarbieri và cộng sự gộp 43 bài, 55 nghiên cứu, 181 hệ số: tác dụng mức vừa, g = 0,48 (Educational Psychology Review 35).
2023 · Chính Sweller nhìn lạiCác lần lặp lại thất bại không làm đổ lý thuyết mà buộc nó nói rõ hơn khi nào đúng, khi nào không (Educational Psychology Review 35:95).

Nguồn: các bài ghi trong từng dòng. Số nghiên cứu và hệ số g lấy từ tóm tắt của chính các bài, đối chiếu qua kết quả tìm kiếm ngày 15/10/2026.

Phần 7

Đánh giá bài báo

Điểm là đánh giá của Mark dựa trên các nguồn ở phần Nguồn, không phải số liệu của một nghiên cứu.

Ý tưởng mới lúc ra đời
5/5
Bằng chứng trong bài gốc
3/5
Độ vững đến nay
4/5
Dễ đo lường
2/5
Dễ áp dụng
5/5
Mạnh
  • Giải thích gọn một chuyện ai đi học cũng gặp
  • Sinh ra lời khuyên dùng được: bài giải mẫu
  • Được lặp lại qua nhiều phân tích gộp
Yếu
  • "Tải" khó đo, các loại tải chồng nhau
  • Không đúng với người đã giỏi
  • Bằng chứng gốc là mô hình và thí nghiệm nhỏ

Bài báo đúng ở chỗ quan trọng nhất: người mới học cần thấy cách giải trước khi tự vật lộn. Nhưng đừng biến nó thành "học càng nhẹ càng tốt".

Phần 8

Bài học áp dụng: học từ bài giải mẫu trước khi tự giải

Làm được từ ngày mai với bất kỳ môn nào có bài tập: toán, lý, lập trình, kế toán, ngữ pháp.

Bốn bước: đọc kỹ một bài giải mẫu và tự giải thích từng bước; tự giải một bài giống hệt dạng; dùng bài mẫu bị che bớt dần các bước; khi đã quen thì chuyển hẳn sang tự giải. 1 · đọc bài mẫutự giải thíchvì sao có bước này 2 · giải bài sinh đôicùng dạngngay sau bài mẫu 3 · che bớt dầntự điền bước thiếumỗi lần thiếu thêm một bước 4 · tự giải hẳnkhi đã quenbài mẫu lúc này cản đường Người mới: xem trước, làm sau. Người đã giỏi: làm trước.
Từ bài mẫu sang tự giải. Bước 1 và 2 dựa trên hiệu ứng bài giải mẫu; bước 4 dựa trên hiệu ứng đảo ngược theo trình độ. Bước 3 (che bớt dần) là cách nối hai bước, được bàn trong tổng quan về học từ ví dụ.Nguồn: Sweller và Cooper (1985); Barbieri và cộng sự (2023); Kalyuga và cộng sự (2003); Atkinson, Derry, Renkl và Wortham (2000), Review of Educational Research 70(2). Thứ tự bốn bước là đề xuất của Mark.
Mỗi dạng mới: một bài mẫuĐừng lao vào giải ngay khi chưa từng thấy dạng bài. Tìm một lời giải đúng, đọc chậm.
Hỏi "vì sao bước này?"Viết một dòng giải thích cho mỗi bước. Không giải thích được thì chưa hiểu.
Bài sinh đôi ngay sauGập bài mẫu, giải một bài cùng dạng, đổi số. Kẹt thì mở bài mẫu ra xem đúng bước đó.
Gom một chỗĐang học thì tắt bớt thông báo, để hình và chữ giải thích nằm cạnh nhau. Bớt tải thừa, không bớt suy nghĩ.

Ba quy tắc đầu dựa trên hiệu ứng bài giải mẫu (các nguồn ở hình trên). Quy tắc "gom một chỗ" là gợi ý của Mark theo ý "bớt tải thừa" của lý thuyết.

Tự kiểm tra: mình đã đến lúc bỏ bài mẫu chưa?

1. Gập bài mẫu lại. Mình có viết lại được lời giải và giải thích từng bước không?

2. Cho một bài cùng dạng nhưng đổi số: mình giải được trong thời gian gần bằng lúc xem mẫu không?

3. Cho một bài khác dạng một chút: mình có nhận ra phần nào giống bài mẫu không?

4. Nếu cả ba câu đều "có", bỏ bài mẫu, tự giải. Nếu câu 1 là "không", quay lại bước 1.

Giải bài kiểu nhắm đích có chức năng là đến được đích, không phải để học.Ý Sweller rút ra từ câu đố biến số, theo Sweller (2023) kể lại; Mark dịch ý.
Phần 9

Đọc tiếp

Sweller (2023), "The Development of Cognitive Load Theory: Replication Crises and Incorporation of Other Theories Can Lead to Theory Expansion"Educational Psychology Review 35:95. Chính tác giả kể lại lý thuyết lớn lên ra sao, kể cả những lần sai. Đọc miễn phí.
CESE, Bộ Giáo dục New South Wales (2017), "Cognitive load theory: Research that teachers really need to understand"Bản tóm tắt cho giáo viên, nhiều ví dụ lớp học.
Bài báo đổi cách ta học #2: Con số 7 của MillerBộ nhớ làm việc chứa được bao nhiêu thứ. Có trên markhocai.com/vu-tru-khac.
Bài báo đổi cách ta học #6: Tự kiểm tra thắng đọc lại (Roediger và Karpicke, 2006)Một việc tốn sức mà giúp nhớ lâu. Bài tiếp theo trong chuỗi.
Phần 10

Nguồn gốc

Bài báo gốc trước, rồi đến tổng quan và phân tích gộp có bình duyệt; nguồn thứ cấp ghi rõ. Môi trường làm bài chặn trang tạp chí và cơ sở dữ liệu trích dẫn, nên các nguồn được đối chiếu qua trích đoạn trong kết quả tìm kiếm ngày 15/10/2026, chưa mở toàn văn.

  1. Sweller, J. (1988). Cognitive load during problem solving: Effects on learning. Cognitive Science 12(2), 257–285. doi.org/10.1207/s15516709cog1202_4
  2. Sweller, J., Mawer, R. F., & Howe, W. (1982). Consequences of history-cued and means-end strategies in problem solving. American Journal of Psychology 95, 455–483.
  3. Sweller, J. (2016). Story of a research program. Education Review 23. Sweller, J. (2023). The development of cognitive load theory. Educational Psychology Review 35:95. link.springer.com
  4. Sweller, J., & Cooper, G. A. (1985). The use of worked examples as a substitute for problem solving in learning algebra. Cognition and Instruction 2(1), 59–89.
  5. Newell, A., & Simon, H. A. (1972). Human Problem Solving. Prentice-Hall. Larkin, J., McDermott, J., Simon, D. P., & Simon, H. A. (1980). Expert and novice performance in solving physics problems. Science 208, 1335–1342.
  6. Sweller, J., van Merriënboer, J. J. G., & Paas, F. (1998; 2019). Cognitive architecture and instructional design. Educational Psychology Review 10(3); bản "20 years later", 31, 261–292. link.springer.com
  7. Kalyuga, S., Ayres, P., Chandler, P., & Sweller, J. (2003). The expertise reversal effect. Educational Psychologist 38(1), 23–31.
  8. Barbieri, C. A., Miller-Cotto, D., Clerjuste, S. N., & Chawla, K. (2023). A meta-analysis of the worked examples effect on mathematics performance. Educational Psychology Review 35. doi.org/10.1007/s10648-023-09745-1
  9. de Jong, T. (2010). Cognitive load theory, educational research, and instructional design: some food for thought. Instructional Science 38(2), 105–134. link.springer.com
  10. Krieglstein, F., và cộng sự (2022). Phân tích gộp về độ tin cậy và độ giá trị của bảng hỏi tải nhận thức. Educational Psychology Review. link.springer.com
  11. Sinha, T., & Kapur, M. (2021). When problem solving followed by instruction works: Evidence for productive failure. Review of Educational Research. doi.org/10.3102/00346543211019105 Ashman, G., Kalyuga, S., & Sweller, J. (2020). Problem-solving or explicit instruction: Which should go first when element interactivity is high? Educational Psychology Review 32.
  12. Atkinson, R. K., Derry, S. J., Renkl, A., & Wortham, D. (2000). Learning from examples. Review of Educational Research 70(2), 181–214.
  13. CESE, NSW Department of Education (2017). Cognitive load theory: Research that teachers really need to understand. education.nsw.gov.au
  14. Cowan, N. (2001). The magical number 4 in short-term memory. Behavioral and Brain Sciences 24(1), 87–114.
  15. Số trích dẫn: trang Semantic Scholar của bài 1988 (tra 15/10/2026). Hồ sơ Sweller: trang UNSW.
  16. Nguồn thứ cấp: hồ sơ ATD (năm học vị của Sweller); các blog nhúng bài đăng Twitter của Dylan Wiliam ngày 26/1/2017 và bài trên trang Chartered College of Teaching; World Economic Forum, swissinfo và Đại học Texas thuật lại Sinha và Kapur (2021).