Chấm điểm 10 cách học
Dunlosky, Rawson, Marsh, Nathan và Willingham · Psychological Science in the Public Interest · 1/2013
Nguồn: Dunlosky và cộng sự (2013), Psychological Science in the Public Interest 14(1), 4–58; thông cáo của Hiệp hội Khoa học Tâm lý (APS) và Đại học Kent State, 1/2013. Toàn văn đối chiếu qua trích đoạn của bản PDF trong kết quả tìm kiếm.
Tinh hoa
Nguồn: Dunlosky và cộng sự (2013); Donoghue và Hattie (2021), Frontiers in Education 6:581216; Mawson và Kang (2025), Behavioral Sciences 15(6):771.
Câu hỏi của bài báo
Hai cách học được dùng nhiều nhất, đọc lại và tô highlight, có phải cách hiệu quả nhất? Bài báo trả lời: không. Và hai cách hiệu quả nhất lại ít người dùng, vì lúc học chúng có cảm giác khó hơn.
Nguồn: Dunlosky và cộng sự (2013); khảo sát của Karpicke, Butler và Roediger (2009), Memory 17(4). Ý "cảm giác khó hơn" theo tổng quan của Carpenter, Pan và Butler (2022), Nature Reviews Psychology.
Câu chuyện phát hiện
Không có phòng thí nghiệm hay ống nghiệm. Đây là một bài "đọc hết mọi thứ rồi chấm điểm", viết cho giáo viên, học sinh và phụ huynh.
Nguồn: Cepeda và cộng sự (2006), Psychological Bulletin 132(3) (317 thí nghiệm, 184 bài); Karpicke và cộng sự (2009); thông cáo Kent State 1/2013 (tác giả, nơi làm); Dunlosky (2013), American Educator 37(3), 12–21; Donoghue và Hattie (2021); Mawson và Kang (2025).
Bài báo nói gì, trong 3 câu
Trong 10 cách học phổ biến, chỉ có tự kiểm tra (làm câu hỏi, thẻ ghi nhớ) và học giãn cách (chia nhỏ thời gian ôn qua nhiều ngày) được xếp "hữu ích cao".
Tự hỏi "vì sao", tự giải thích và học xen kẽ các dạng bài được xếp "vừa": có ích, nhưng chưa được thử đủ trong lớp học thật.
Tóm tắt, tô highlight, mẹo từ khóa, hình dung khi đọc và đọc lại bị xếp "thấp", trong đó có hai cách sinh viên dùng nhiều nhất.
Vì sao tô highlight và đọc lại bị điểm thấp?
Tô highlight: người học nhớ phần mình tô tốt hơn, nhưng thường tô không đúng chỗ quan trọng, và việc tô không buộc não làm gì thêm ngoài đọc.
Đọc lại: có giúp một chút, nhất là khi đọc lại sau một khoảng nghỉ. Nhưng so với tự kiểm tra trong cùng thời gian thì kém xa. Bất lợi tương đối là "cú trừ điểm" lớn nhất.
Nguồn: Dunlosky và cộng sự (2013), mục highlighting và rereading, đối chiếu qua bản tóm tắt thứ cấp.
Bài báo này được đánh giá thế nào
Mỗi dòng có nguồn và ngày tra.
| Đăng ở đâu, năm nào | Psychological Science in the Public Interest, tập 14 số 1, tháng 1/2013, tr. 4–58. Tạp chí chuyên đề của Hiệp hội Khoa học Tâm lý (APS), mỗi số là một tổng quan dài về một vấn đề xã hội quan tâm.Nguồn: trang bài báo (DOI 10.1177/1529100612453266); thông cáo APS 1/2013. |
|---|---|
| Số lần trích dẫn | Khoảng 6.282 lần.Nguồn: hồ sơ Google Scholar của John Dunlosky, đọc qua kết quả tìm kiếm ngày 15/10/2026 (bộ đếm không ghi ngày cập nhật, số thật có thể cao hơn). Cơ sở dữ liệu khác cho số khác. |
| Đã được lặp lại chưa | Đây là bài tổng quan, nên "lặp lại" là các phân tích gộp sau đó. Donoghue và Hattie (2021) gom 242 nghiên cứu, 169.179 người tham gia: giãn cách (0,85) và tự kiểm tra (0,74) vẫn đứng đầu. Các phân tích gộp riêng trong lớp học thật cũng thấy hai cách này có tác dụng (xem Phần 6).Nguồn: Donoghue và Hattie (2021), Frontiers in Education 6:581216, bảng 1; Yang và cộng sự (2021), Psychological Bulletin; Mawson và Kang (2025), Behavioral Sciences 15(6):771. |
| Phản biện chính | Donoghue và Hattie: nhóm "thấp" vẫn có hiệu ứng từ 0,44 trở lên, không nên gạt bỏ. Kuhbandner và Emmerdinger (2019): khảo sát "sinh viên chỉ đọc lại" bị hiểu quá tay. Ponce, Mayer và Méndez (2022): highlight có giúp sinh viên đại học nhớ. Chính nhóm tác giả: nhiều bằng chứng đến từ nghiên cứu một buổi, vài cách chưa được thử đủ trong lớp học.Nguồn: các bài nêu tên; thông cáo Kent State 1/2013. |
| Giải thưởng, sách giáo khoa | Chưa tìm được nguồn đáng tin về giải thưởng hay vị trí trong sách giáo khoa, nên không ghi. |
| Kết luận | VỮNG Hai kết luận chính đứng được sau 12 năm. Phần xếp "thấp" nên đọc là "kém hơn", không phải "vô dụng".Nhãn là đánh giá của Mark. |
Kiểm chứng: điều đúng và lời đồn
14 điều hay được nói về bài báo, đối chiếu với chính bài báo và các nghiên cứu sau. Bấm từng dòng để xem lý do.
VỮNGBài báo chấm 10 cách học phổ biến
Đúng: tự kiểm tra, giãn cách, xen kẽ, tự hỏi "vì sao", tự giải thích, tóm tắt, tô highlight, mẹo từ khóa, hình dung khi đọc, đọc lại (Dunlosky và cộng sự 2013).
VỮNGChỉ 2 cách được xếp "hữu ích cao"
Tự kiểm tra và học giãn cách, vì giúp được người học nhiều độ tuổi, nhiều năng lực, trên nhiều loại bài thi (bài báo; thông cáo APS 1/2013).
VỮNGTô highlight bị xếp "hữu ích thấp"
Cùng nhóm với tóm tắt, mẹo từ khóa, hình dung khi đọc và đọc lại (bài báo).
VỮNGPhân tích gộp sau đó vẫn xếp hai cách này lên đầu
Donoghue và Hattie (2021): giãn cách 0,85, tự kiểm tra 0,74, cao nhất trong 10 cách. Lưu ý: số 0,85 trộn cả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (Mawson và Kang 2025).
VỮNGTự kiểm tra có tác dụng trong lớp học thật, không chỉ trong phòng thí nghiệm
Yang và cộng sự (2021), Psychological Bulletin: 222 nghiên cứu trong lớp học, 48.478 học sinh, hiệu ứng g = 0,499.
THẬN TRỌNG"Tô highlight hoàn toàn vô dụng"
Phân tích gộp của Ponce, Mayer và Méndez (2022), 36 bài, 85 hiệu ứng: người học tự tô thì nhớ tốt hơn một chút (0,36) nhưng không hiểu sâu hơn rõ rệt (0,20); có ích cho sinh viên đại học (0,39), không rõ ở học sinh phổ thông (0,24). Tô sẵn do giáo viên làm giúp cả nhớ và hiểu (0,44).
THẬN TRỌNG"Đọc lại là vô ích"
Bài báo chấm thấp vì đọc lại kém hơn hẳn các cách khác trong cùng thời gian, không phải vì nó bằng không. Donoghue và Hattie (2021) đo được 0,47. Đọc lại sau một khoảng nghỉ có ích hơn đọc dồn.
THẬN TRỌNG"Gần như sinh viên nào cũng chỉ học bằng đọc lại"
Khảo sát 2009: 84% kể có đọc lại, 55% xếp nó là cách số 1 (Karpicke và cộng sự; số 55% qua nguồn trích lại). Nhưng Kuhbandner và Emmerdinger (2019) thấy sinh viên chủ yếu đọc lại phần chưa hiểu, và về cuối chuyển sang tự kiểm tra.
THẬN TRỌNG"Tóm tắt là cách học tốt"
Bài báo xếp thấp: tóm tắt giúp người đã biết tóm tắt tốt, còn đa số cần được luyện khá lâu. Donoghue và Hattie (2021): 0,44, thấp nhất trong 10 cách cùng với gạch chân.
THẬN TRỌNG"Học xen kẽ tốt cho mọi môn"
Brunmair và Richter (2019), 59 nghiên cứu: hiệu ứng trung bình g = 0,42, mạnh nhất khi phân biệt tranh vẽ (0,67), tùy độ giống nhau của tài liệu. Bài báo 2013 cũng chỉ xếp "vừa".
THẬN TRỌNG"Cách học tốt giúp mọi người như nhau"
Nhóm tác giả nói rõ các cách này không phải thuốc chữa bách bệnh, hợp nhất với người có động lực và biết dùng (thông cáo Kent State). Phân tích gộp 2021 thấy hiệu ứng chênh nhau rất nhiều giữa các nghiên cứu.
SAI"Đây là một thí nghiệm lớn"
Bài báo không làm thí nghiệm mới. Đây là một tổng quan: đọc lại các nghiên cứu có sẵn rồi chấm điểm.
SAI"Điểm 'hữu ích' là một con số đo được"
Đó là phán đoán của năm tác giả dựa trên bốn nhóm câu hỏi. Phép đo bằng con số (phân tích gộp cho cả 10 cách) đến năm 2021 mới có.
SAI"Bài báo chấm cả phong cách học: nhìn, nghe, vận động"
Phong cách học không nằm trong 10 cách được chấm. Chuyện "mỗi người một phong cách học" đã có bài riêng: Mỗi người một phong cách học.
Nguồn: như ghi trong từng dòng; danh sách đầy đủ ở Phần 10.
Nghiên cứu mới nhất nói gì
Câu hỏi khó nhất: ra khỏi phòng thí nghiệm, vào lớp học thật, còn tác dụng không?
2021 · Đo lại cả 10 cách
Donoghue và Hattie: 242 nghiên cứu, hiệu ứng trung bình 0,56. Giãn cách và tự kiểm tra cao nhất; gạch chân và tóm tắt thấp nhất (0,44) nhưng vẫn dương.2022 · Vì sao ít người dùng
Carpenter, Pan và Butler (Nature Reviews Psychology): giãn cách và tự kiểm tra bị dùng ít vì niềm tin sai về việc học, vì không biết, hoặc vì chúng nghịch với cảm giác.2025 · Chỉ lớp học thật
Mawson và Kang: giãn cách vẫn giúp, d = 0,54, nhỏ hơn con số 0,85 vốn trộn cả phòng thí nghiệm. Riêng môn toán (Murray và cộng sự): 0,28.Nguồn: Donoghue và Hattie (2021); Carpenter, Pan và Butler (2022), Nature Reviews Psychology 1, 496–511; Mawson và Kang (2025); Murray, Horner và Göbel (2025).
Đánh giá bài báo
Điểm là đánh giá của Mark dựa trên các nguồn ở Phần 10, không phải số liệu của một nghiên cứu.
- Gom rất nhiều nghiên cứu thành một bảng ai cũng đọc được
- Nói thẳng về hai cách học phổ biến nhất
- Hai kết luận chính được phân tích gộp xác nhận
- Điểm là phán đoán, không phải phép đo
- Nhiều bằng chứng từ phòng thí nghiệm, một buổi học
- Nhãn "thấp" dễ bị hiểu thành "vô dụng"
Một bài "đọc hết rồi chấm" hiếm hoi mà 12 năm sau vẫn đứng. Đọc nó để biết nên dồn thời gian vào đâu, không phải để cấm bút highlight.
Bài học áp dụng: chuyển thời gian từ "tô và đọc lại" sang "hỏi và giãn ra"
Không cần học nhiều giờ hơn. Chỉ đổi cách dùng cùng số giờ.
Tự kiểm tra cách học của mình: 5 câu hỏi
1. Tuần trước, bao nhiêu phút mình đọc lại, bao nhiêu phút mình tự hỏi mà không nhìn sách?
2. Mình ôn môn này dồn trong 1 đêm hay rải ra ít nhất 3 ngày khác nhau?
3. Gấp sách lại ngay bây giờ, mình viết ra được mấy ý chính của bài vừa học?
4. Chỗ tô màu gần nhất: mình biến nó thành câu hỏi chưa?
5. Sau 1 tuần, làm lại 5 câu hỏi cũ: đúng bao nhiêu câu? Ghi lại để so lần sau.
Đọc tiếp
Nguồn gốc
Nguồn chính là chính bài báo và các nghiên cứu có bình duyệt. Môi trường làm bài chặn tải trực tiếp các trang tạp chí, nên nội dung được đối chiếu qua trích đoạn của chính các trang đó trong kết quả tìm kiếm (tra 15/10/2026), chưa mở toàn văn.
- Dunlosky, J., Rawson, K. A., Marsh, E. J., Nathan, M. J., và Willingham, D. T. (2013). Improving students' learning with effective learning techniques: Promising directions from cognitive and educational psychology. Psychological Science in the Public Interest, 14(1), 4–58. doi.org/10.1177/1529100612453266
- APS (1/2013), thông cáo "Which Study Strategies Make the Grade?". psychologicalscience.org · Đại học Kent State (1/2013), "All Study Strategies Not Created Equal". kent.edu
- Dunlosky, J. (2013). Strengthening the student toolbox. American Educator, 37(3), 12–21. ERIC EJ1021069
- Karpicke, J. D., Butler, A. C., và Roediger, H. L. (2009). Metacognitive strategies in student learning. Memory, 17(4), 471–479. doi
- Kuhbandner, C., và Emmerdinger, K. J. (2019). Do students really prefer repeated rereading over testing when studying textbooks? A reexamination. Memory, 27(7), 952–961. uni-regensburg
- Cepeda, N. J., Pashler, H., Vul, E., Wixted, J. T., và Rohrer, D. (2006). Distributed practice in verbal recall tasks. Psychological Bulletin, 132(3), 354–380.
- Cepeda, N. J., Vul, E., Rohrer, D., Wixted, J. T., và Pashler, H. (2008). Spacing effects in learning: A temporal ridgeline of optimal retention. Psychological Science, 19(11), 1095–1102.
- Brunmair, M., và Richter, T. (2019). Similarity matters: A meta-analysis of interleaved learning and its moderators. Psychological Bulletin.
- Donoghue, G. M., và Hattie, J. A. C. (2021). A meta-analysis of ten learning techniques. Frontiers in Education, 6, 581216. frontiersin.org
- Yang, C., Luo, L., Vadillo, M. A., Yu, R., và Shanks, D. R. (2021). Testing (quizzing) boosts classroom learning: A systematic and meta-analytic review. Psychological Bulletin.
- Ponce, H. R., Mayer, R. E., và Méndez, E. E. (2022). Effects of learner-generated highlighting and instructor-provided highlighting on learning from text: A meta-analysis. Educational Psychology Review, 34, 989–1024. springer
- Carpenter, S. K., Pan, S. C., và Butler, A. C. (2022). The science of effective learning with spacing and retrieval practice. Nature Reviews Psychology, 1, 496–511.
- Murray, E., Horner, A. J., và Göbel, S. M. (2025). A meta-analytic review of the effectiveness of spacing and retrieval practice for mathematics learning. Educational Psychology Review. White Rose
- Mawson, R. D., và Kang, S. H. K. (2025). The distributed practice effect on classroom learning: A meta-analytic review of applied research. Behavioral Sciences, 15(6), 771. PMC12189222
- Số trích dẫn: hồ sơ Google Scholar của John Dunlosky (qua kết quả tìm kiếm, tra 15/10/2026). Số 177 sinh viên và 55% của khảo sát 2009 theo tài liệu của Queen's University và Aljabri (2024), Frontiers in Education (nguồn thứ cấp).