Eastman Kodak · nộp đơn phá sản 19/1/2012 · Rochester, New York
Nguồn: thông cáo Kodak 19/1/2012; tài sản và nợ theo đơn phá sản, do CNN Money và Rochester Business Journal đưa lại (nguồn thứ cấp); bằng sáng chế Mỹ 4.131.919 (1978).
Nguồn: bằng sáng chế Mỹ 4.131.919 (1978); thị phần 2005 của IDC do AP đưa tin (nguồn thứ cấp), Kodak tự nêu vị trí số 1 trong 8-K quý 1 và quý 2/2005; doanh thu 1996 theo 10-K năm 1996, 2011 theo 10-K năm 2011; thông cáo Kodak 19/1/2012.
Công ty làm ra máy ảnh số đầu tiên, rồi bán nhiều máy ảnh số nhất nước Mỹ, vì sao vẫn phá sản? Không phải vì không thấy tương lai. Mà vì quá lâu, tương lai bị chấm điểm bằng thước đo của quá khứ.
Nguồn: nguyên mẫu 1975 theo IEEE Spectrum (nguồn thứ cấp) và bằng sáng chế 4.131.919; thị phần 2005 theo IDC qua AP (nguồn thứ cấp). Câu trả lời là nhận định của Mark.
Doanh thu lấy từ báo cáo thường niên 10-K của Kodak nộp cho SEC; mốc phá sản lấy từ thông cáo và hồ sơ tòa.
Nguồn: IEEE Spectrum (nguyên mẫu 1975, cảm biến 1986, DCS 100; nguồn thứ cấp); bằng sáng chế Mỹ 4.131.919; niên biểu Kodak do Rochester Business Journal đăng năm 2012 (145.300 nhân viên; nguồn thứ cấp); 10-K năm 1996 và 1997 (doanh thu, lãi 1996); hồ sơ POS AM năm 2004 (cổ tức); WSJ 21/10/2003 (phản ứng cổ đông; nguồn thứ cấp); IDC qua AP (thị phần 2005; nguồn thứ cấp); thông cáo kết quả 1/2006 qua dpreview (54%; nguồn thứ cấp); 10-K năm 2008 (phim 2007); thông cáo Kodak 19/1/2012; 8-K ngày 9/2/2012; 8-K tháng 8/2013 và Institutional Investor (ra khỏi phá sản; nguồn thứ cấp).
Chiến lược, con người, tổ chức, động cơ. Không lớp nào một mình đủ giải thích.
14 điều hay được kể về Kodak, đối chiếu với hồ sơ Kodak nộp SEC, hồ sơ phá sản và các nguồn có ghi rõ. Bấm từng dòng để xem lý do.
Steven Sasson, nguyên mẫu năm 1975; Kodak được cấp bằng sáng chế Mỹ 4.131.919 năm 1978. Lưu ý: đây là máy ảnh số cầm tay tự chứa đầu tiên, không phải thiết bị đầu tiên tạo ra ảnh số (IEEE Spectrum, nguồn thứ cấp).
Hồ sơ POS AM 2004: cổ tức nửa năm từ 0,90 xuống 0,25 USD từ 24/9/2003. Wall Street Journal (21/10/2003, nguồn thứ cấp): cổ phiếu giảm khoảng 14%, một nhóm cổ đông vận động đảo ngược.
IDC qua AP (nguồn thứ cấp): 24,9% thị phần theo số máy, 7,05 triệu máy; Canon 17,7%, Sony 16,9%. Kodak tự nêu vị trí số 1 trong 8-K quý 1 và quý 2/2005.
54% tổng doanh thu 2005, theo thông cáo kết quả của Kodak tháng 1/2006 (qua dpreview, nguồn thứ cấp). Đây là số do chính công ty công bố.
10-K năm 2008: năm 2007 bán phim chụp ảnh giảm 30%, in tráng ảnh truyền thống giảm 19% so với 2006.
Thông cáo Kodak 19/1/2012: Chapter 11 tại Quận Nam New York, khoản vay 950 triệu USD từ Citigroup. Đơn ghi tài sản 5,1 tỷ USD, nợ 6,75 tỷ USD (CNN Money, Rochester Business Journal; nguồn thứ cấp). Vụ số 12-10202, thẩm phán Allan Gropper.
Sasson kể có hoài nghi. Nhưng máy năm 1975 chưa dùng được: 23 giây mới ghi một ảnh, phải xem trên TV. Snopes (nguồn thứ cấp) kết luận lý do chính là thiết bị chưa sẵn sàng. Kodak vẫn đăng ký bằng sáng chế và tiếp tục nghiên cứu (cảm biến 1986, DCS 100 năm 1991).
Câu này lan truyền rộng nhưng không tìm được nguồn gốc có ngày tháng. Câu có nguồn là lời Sasson với New York Times năm 2008: lãnh đạo tin "sẽ không ai muốn xem ảnh của mình trên TV" (nguồn thứ cấp).
Chỉ có trong hồi ký của Vince Barabba, người làm nghiên cứu (The Decision Loom, 2011). Một nguồn tóm tắt khác ghi 20 năm. Chưa thấy văn bản nghiên cứu gốc.
Kodak từng thắng ở máy ảnh số (2005), rồi chính mảng này cũng bị bỏ (8-K 9/2/2012). Phim sụt nhanh, máy ảnh bán một lần không có vòng lặp như phim, chi phí hưu trí lớn (hơn 1,2 tỷ USD, 8-K 11/2012). Nhiều nguyên nhân chồng lên nhau.
Fujifilm đa dạng hóa sớm; phim chiếm khoảng 60% lợi nhuận hoạt động của họ năm 2000 (Harvard d3, PetaPixel; nguồn thứ cấp). Nhưng cơ cấu khác (có Fuji Xerox), và các nguồn thứ cấp ghi tỷ trọng doanh thu mâu thuẫn (54% hay 33,5%). So sánh gợi ý, không chứng minh một nguyên nhân duy nhất.
Kodak làm nguyên mẫu năm 1975, có bằng sáng chế 1978, cảm biến megapixel 1986, máy ảnh số chuyên nghiệp 1991, rẽ hẳn sang số 2003 và đứng số 1 ở Mỹ năm 2005. Kodak thấy. Cái thiếu là tốc độ, và một cách kiếm tiền thay cho vòng lặp phim.
Bài viết lan truyền từ 2016. Nhân sự đỉnh là 145.300 năm 1988 (niên biểu Kodak qua Rochester Business Journal); khoảng 86.000 năm 1998 (The Week 2011, qua TruthOrFiction). Cả hai là nguồn thứ cấp, nhưng đều thấp hơn xa con số 170.000. Số 85% không có nguồn.
Tòa xác nhận kế hoạch tái cơ cấu ngày 20/8/2013 (8-K của Kodak). Ngày 3/9/2013 Kodak ra khỏi phá sản, nhỏ hơn, tập trung in thương mại. Mảng ảnh cá nhân chuyển cho Quỹ hưu trí Kodak Anh, thành Kodak Alaris (8-K 4/2013; Institutional Investor, nguồn thứ cấp).
Nguồn: như ghi trong từng dòng; danh sách đầy đủ ở Phần 8.
Điểm là đánh giá của Mark dựa trên các nguồn ở Phần 8, không phải số liệu của một nghiên cứu.
Nguồn: bán bằng sáng chế khoảng 525 triệu USD (12/2012) và kỳ vọng 2–3 tỷ USD của giới phân tích theo TechCrunch (nguồn thứ cấp).
Kodak không mù. Kodak thấy rất sớm, nhưng để mảng phim làm giám khảo quá lâu, và khi rẽ thì tiền mới không còn nằm ở thứ Kodak bán.
"Kodak không thấy máy ảnh số" là một câu chuyện gọn: một kẻ kiêu ngạo, một tương lai bị bỏ qua. Nó dễ kể hơn sự thật lộn xộn: một công ty thấy, nghiên cứu, đầu tư, thậm chí thắng, mà vẫn thua.
Bản lộn xộn có ích hơn cho người đi làm. Hầu hết chúng ta không thiếu thông tin về tương lai. Ta thiếu một cách để ý tưởng mới không bị chấm bằng thước đo của việc đang nuôi ta hôm nay.
Phần "Xem thêm" là nhận xét của Mark, dựa trên các sự kiện có nguồn ở Phần 2 và Phần 4.
Áp dụng cho mọi nhóm có một việc "đang nuôi cả nhà" và một ý tưởng mới còn nhỏ: sản phẩm, kênh bán, cách làm.
1. Ý tưởng mới gần nhất của nhóm bị dừng vì câu hỏi nào? Câu hỏi đó có phải thước đo của việc cũ không?
2. Ai trong nhóm được quyền nói "có" với ý tưởng mới mà không cần mảng cũ đồng ý?
3. Nếu đối thủ ra mắt bản rẻ hơn, nhanh hơn vào tháng sau, mình mất gì đầu tiên?
4. Điểm chuyển của mình đã được viết ra chưa? Nếu chưa, viết một con số ngay hôm nay.
5. Sản phẩm mới kiếm tiền lặp lại ở đâu: dịch vụ, vật tư, gói thuê bao, hay không ở đâu cả?
Ưu tiên hồ sơ Kodak nộp SEC và hồ sơ phá sản. Nguồn thứ cấp ghi rõ. Môi trường làm bài chặn sec.gov, nên các hồ sơ gốc được đối chiếu qua trích đoạn của chính trang sec.gov trong kết quả tìm kiếm, chưa mở toàn văn.