Mark ở vũ trụ khácENMark học AI
Mark ở vũ trụ khác Nhìn lại sự kiện lớn #9 · Tài chính · Kinh tế

Khủng hoảng tài chính châu Á

Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và cả khu vực · 7/1997 đến 1998

Chuyện gìmột đồng tiền thả nổi, rồi cả khu vực rơi như domino
Quy môrupiah mất 81%, baht mất 56% giá trị chỉ trong khoảng sáu tháng
Nhập vaibạn là thống đốc ngân hàng trung ương Thái Lan, giữa năm 1997
Nguồn chínhIMF (thông cáo chương trình, đánh giá độc lập IEO 2003), Ngân hàng Trung ương Thái Lan

Nguồn: IMF, International Capital Markets Report 1998, chương II (rupiah giảm 81%, baht giảm 56% đến tháng 1/1998, so với đầu tháng 7/1997).

Đọc lại trong 1 phút

Tinh hoa

Vay ngắn, làm dàiNhiều doanh nghiệp, ngân hàng vay đô la ngắn hạn để làm dự án, mua đất nhiều năm.
Dự trữ trông đầy, thật ra rỗngThái Lan chống đỡ tỷ giá bằng hợp đồng kỳ hạn không công bố.
2/7/1997: domino đầu tiênBaht thả nổi. Trong năm tháng, IMF phải lập gói cho Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc.
Thuốc cũng gây tranh cãiChính đánh giá độc lập của IMF (2003): thắt chặt ngân sách lúc đầu ở Indonesia, Hàn Quốc là không cần thiết.
Bài học ở lạiGiữ dự trữ thật, khớp kỳ hạn nợ, bảo đảm tiền gửi rõ ràng, quỹ hoán đổi khu vực (Chiang Mai 2000).

Nguồn: IMF, Boughton (2012), Tearing Down Walls, chương 11 (hoán đổi kỳ hạn không công bố, thả nổi 2/7/1997); thông cáo IMF 97/37, 97/50, 97/55; IEO (2003), chương 4; tuyên bố chung ASEAN+3 tại Chiang Mai, 6/5/2000.

Phần 1

Câu hỏi của sự kiện

Những nền kinh tế được khen là "thần kỳ" đầu thập niên 1990, vì sao chỉ trong vài tháng rơi vào suy thoái sâu nhất trong nhiều thập kỷ? Không phải chỉ vì một nhóm đầu cơ. Mà vì quá nhiều người vay tiền ngắn hạn, bằng tiền của người khác, để làm việc dài hạn. Khi chủ nợ đòi cùng lúc, không ai đủ tiền trả.

Nguồn: GDP 1998 theo IMF Working Paper 99/138 (Berg, 1999); cơ chế "dòng vốn đảo chiều đột ngột" theo IEO (2003). Câu trả lời là nhận định của Mark.

đầu thập niên 1990Tiền vào ồ ạtTỷ giá gần như cố định, vay đô la rẻ, đầu tư bất động sản, chứng khoán.
→
7/1997 đến 1/1998Tiền rút cùng lúcBaht thả nổi, chủ nợ không gia hạn, tiền tệ khu vực mất 55% đến 81%.
→
1998 đến 2000Suy thoái, sửa luậtGDP rơi, chính phủ đổ, rồi dự trữ, ngân hàng, quỹ khu vực được làm lại.

Nguồn: mức mất giá theo IMF, International Capital Markets Report 1998, chương II.

Phần 2

Dòng thời gian

Từ một quyết định tỷ giá ở Bangkok đến ba gói cứu trợ lớn của IMF trong năm tháng.

Dòng thời gian bảy mốc: 2/7/1997 Thái Lan thả nổi baht; 20/8/1997 IMF duyệt gói cho Thái Lan; 5/11/1997 IMF duyệt gói cho Indonesia; 4/12/1997 IMF duyệt gói cho Hàn Quốc; 21/5/1998 Suharto từ chức; 1/9/1998 Malaysia kiểm soát vốn; 6/5/2000 Sáng kiến Chiang Mai. Bốn mốc đầu cách nhau chỉ năm tháng. 5 tháng: từ một nước đến ba gói IMF 2/7/1997Thái thả nổiđồng baht 20/8/1997IMF duyệt góicho Thái Lan 5/11/1997IMF duyệt góicho Indonesia 4/12/1997IMF duyệt góicho Hàn Quốc 21/5/1998Suhartotừ chức 1/9/1998Malaysiakiểm soát vốn 6/5/2000Sáng kiếnChiang Mai khoảng cách giữa các mốc không theo tỷ lệ thời gian
Bốn mốc đầu dồn vào năm tháng. Sau đó khủng hoảng chuyển từ tiền tệ sang chính trị (Indonesia) và sang tranh luận chính sách (Malaysia chọn con đường khác IMF).Nguồn: IMF, Boughton (2012), chương 11 (2/7/1997); thông cáo IMF 97/37 (20/8/1997), 97/50 (5/11/1997), 97/55 (4/12/1997); Suharto từ chức theo Britannica và IPS 21/5/1998 (nguồn thứ cấp); kiểm soát vốn Malaysia theo Jomo K.S., Oxford GEG Working Paper 2004/08 (nguồn thứ cấp); tuyên bố chung ASEAN+3, Chiang Mai, 6/5/2000.
Mức mất giá so với đô la Mỹ đến tháng 1/1998: rupiah Indonesia mất 81 phần trăm so với 1/7/1997; baht Thái mất 56 phần trăm so với đầu tháng 7/1997; won Hàn Quốc mất 55 phần trăm từ 1/10/1997 đến đáy cuối tháng 12/1997. mất giá so với USD, đến đáy khoảng 12/1997 đến 1/1998 rupiah−81% baht−56% won−55% rupiah, baht: so với đầu 7/1997. won: so với 1/10/1997.
Một đồng đô la nợ biến thành hai, rồi năm. Ai vay đô la mà thu nhập bằng rupiah thấy khoản nợ của mình phình ra gấp nhiều lần chỉ trong vài tháng, dù không vay thêm đồng nào.Nguồn: IMF, International Capital Markets Report 1998, chương II. Phép tính "gấp nhiều lần" là suy ra từ mức mất giá: mất 81% nghĩa là một đô la đắt gấp khoảng 5 lần.
Tăng trưởng GDP thực năm 1998 theo ước tính của IMF năm 1999: Indonesia âm 13,7 phần trăm, Thái Lan âm 9,4, Malaysia âm 6,7, Hàn Quốc âm 5,8. GDP thực năm 1998, % (ước tính của IMF năm 1999) −13,7−9,4−6,7−5,8 IndonesiaThái LanMalaysiaHàn Quốc
Indonesia rơi sâu nhất. Các bộ số liệu sau này được sửa lại nhiều lần (ví dụ có bảng ghi Thái Lan −10,2%, Malaysia −7,4%), nên bài dùng một bộ số duy nhất để so sánh cho công bằng.Nguồn: IMF Working Paper 99/138, Berg (1999), "The Asia Crisis: Causes, Policy Responses, and Outcomes". Bộ số khác: bảng của FAO trích số liệu IMF (nguồn thứ cấp).
1996 · Thâm hụt lớnThâm hụt tài khoản vãng lai của Thái Lan khoảng 14,7 tỷ USD, cỡ 8% GDP: cả nước chi ra nước ngoài nhiều hơn thu về, bù bằng vốn vay.
Đầu 1997 · Chống đỡ tỷ giáNgân hàng Trung ương Thái Lan bán đô la qua hợp đồng hoán đổi kỳ hạn để giữ baht. Dự trữ công bố trông vẫn nguyên; cam kết kỳ hạn lên khoảng 23 tỷ USD và không được công bố.
27/6/1997 · Đình chỉ 16 công ty tài chínhThêm 42 công ty ngày 5/8/1997, tổng cộng 58.
2/7/1997 · Thả nổi bahtBaht mất gần 17% so với đô la trên thị trường hải ngoại ngay trong ngày.
20/8/1997 · Gói IMF cho Thái LanTín dụng dự phòng SDR 2,9 tỷ (khoảng 3,9 tỷ USD), rút dần trong 34 tháng.
11/1997 · IndonesiaIMF duyệt SDR 7,3 tỷ (khoảng 10,1 tỷ USD) ngày 5/11. Cùng tháng, 16 ngân hàng bị đóng cửa.
4/12/1997 · Hàn QuốcIMF duyệt SDR 15,5 tỷ, gấp 19 lần hạn mức của Hàn Quốc. Tính cả các nước và tổ chức khác, gói khoảng 57 đến 58 tỷ USD.
1/1998 · Đáy tiền tệRupiah mất 81%, baht mất 56% so với đầu tháng 7/1997.
21/5/1998 · Suharto từ chứcSau 32 năm cầm quyền, giữa bạo loạn và khủng hoảng kinh tế. Phó Tổng thống Habibie lên thay.
1/9/1998 · Malaysia đi đường riêngKiểm soát vốn, neo 3,80 ringgit đổi 1 USD, không vay IMF. Neo được bỏ năm 2005.
6/5/2000 · Sáng kiến Chiang MaiASEAN cùng Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc lập mạng hoán đổi tiền tệ để cứu nhau khi thiếu thanh khoản.

Nguồn: CRS (1998), "The 1997–98 Asian Financial Crisis" (thâm hụt 1996; gói Hàn Quốc 58,2 tỷ USD); PIIE, chương 5 (khoảng 57 tỷ USD; nguồn thứ cấp); IMF, Boughton (2012), chương 11 (hoán đổi không công bố, −17% ngày 2/7); cam kết kỳ hạn khoảng 23 tỷ USD theo các nghiên cứu về khủng hoảng Thái Lan (nguồn thứ cấp, các nguồn chênh nhau); Ngân hàng Trung ương Thái Lan, trang "Lessons learnt from the Asian Financial Crisis" (58 công ty tài chính); thông cáo IMF 97/37, 97/50, 97/55; IMF Issues Brief 00/05 (16 ngân hàng, 11/1997); IMF, International Capital Markets Report 1998; Britannica, IPS (Suharto; nguồn thứ cấp); Jomo K.S. (2004) và báo Malaysia (kiểm soát vốn; nguồn thứ cấp); tuyên bố chung ASEAN+3 6/5/2000.

Việt Nam bị ảnh hưởng thế nào

Không rơi vào khủng hoảng tiền tệ như các nước có thị trường vốn mở, nhưng chậm lại rõ: tăng trưởng GDP 8,15% (1997), 5,76% (1998), 4,77% (1999); xuất khẩu tăng 26,6% năm 1997 nhưng chỉ 1,9% năm 1998; vốn FDI đăng ký từ 4,6 tỷ USD (1997) còn 1,5 tỷ USD (1999).

Chỗ các nguồn lệch nhau

Số 5,76% của năm 1998 là số Tổng cục Thống kê do báo chí dẫn lại. Một bảng của IMF năm 1999 ghi 1998 chỉ 3,5% (ước tính sớm). Mark dùng số chính thức trong nước và ghi chú độ lệch.

Nguồn: số Tổng cục Thống kê do VnEconomy và Báo Chính phủ dẫn (nguồn thứ cấp); IMF Staff Country Report 99/55 (3,5%); FDI theo tham luận của phía Việt Nam tại hội thảo IMF về FDI, Hà Nội 2002 (nguồn thứ cấp).

Kỳ 1

Dòng thời gian

2/7/1997rupiah −81%3 gói IMFViệt Nam
Kỳ 2

Quyết định then chốt

nhập vai thống đốc16 ngân hàngtranh luận IMFlời đồn đầu cơ
Kỳ 3

Thế giới học được gì

dự trữ thậtChiang Maikhớp kỳ hạnMark chấm
Phần 3

Năm quyết định then chốt

Nhìn bằng con mắt lúc đó: ai quyết, họ biết gì, họ chọn gì, rồi chuyện gì xảy ra. Không phán xét bằng hiểu biết sau này.

1 · Giữ tỷ giá bằng hợp đồng kỳ hạn

forward swaps · peg defenceđầu 1997 đến 2/7/1997
Ai quyếtNgân hàng Trung ương Thái Lan
Lúc đó biết gìTỷ giá gần cố định đã giữ hơn chục năm. Thả nổi thì doanh nghiệp nợ đô la sẽ khốn đốn. Đầu cơ đang bán baht.
Chọn gìBán đô la kỳ hạn để giữ baht, không công bố cam kết này.
Hệ quảĐến 2/7/1997 dự trữ ròng gần cạn, buộc phải thả nổi. Thị trường và cả IMF không thấy con số thật.
Sơ đồ minh họa không theo tỷ lệ: dự trữ công bố trông vẫn đầy; nhưng khoảng 23 tỷ USD đã hứa bán kỳ hạn; phần còn dùng được vào ngày 2/7/1997 chỉ khoảng 2,8 tỷ USD theo Ủy ban Nukul. dự trữ công bố trông vẫn đầy thật ra đã hứa bán kỳ hạn: khoảng 23 tỷ USD còn dùng được: khoảng 2,8 tỷ USD sơ đồ minh họa, không theo tỷ lệ
Dự trữ thật = dự trữ trừ đi những gì đã hứa. Cái sai lớn nhất không chỉ là cố giữ tỷ giá, mà là giữ bằng cam kết không ai nhìn thấy, nên đến khi buộc phải dừng thì không còn đệm.Nguồn: IMF, Boughton (2012), chương 11 (hoán đổi không công bố cho thị trường và IMF); khoảng 23 tỷ USD theo các nghiên cứu về khủng hoảng Thái Lan (nguồn thứ cấp, các nguồn chênh nhau); khoảng 2,8 tỷ USD theo báo cáo Ủy ban Nukul (1998), đọc qua bản sao trực tuyến (nguồn thứ cấp).

2 · Thả nổi đồng baht

the float2/7/1997
Ai quyếtNgân hàng Trung ương và Bộ Tài chính Thái Lan
Lúc đó biết gìDự trữ dùng được gần hết. Công ty tài chính đã phải đình chỉ từ 27/6.
Chọn gìBỏ neo vào rổ tiền tệ, chuyển sang thả nổi có quản lý.
Hệ quảBaht mất gần 17% ngay trong ngày, 56% đến tháng 1/1998. Nhà đầu tư bắt đầu soi các nước giống Thái Lan.

3 · Nhận gói IMF kèm điều kiện thắt chặt

IMF programmes8/1997 đến 12/1997
Ai quyếtChính phủ Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc cùng IMF
Lúc đó biết gìCần đô la gấp. Khuôn chữa khủng hoảng quen thuộc của IMF là thắt chặt ngân sách, nâng lãi suất, dọn ngân hàng yếu.
Chọn gìThái Lan (20/8), Indonesia (5/11), Hàn Quốc (4/12) nhận tín dụng dự phòng, rút từng đợt theo điều kiện.
Hệ quảSuy thoái sâu hơn dự báo. Chỉ tiêu ngân sách được nới khi thấy sản lượng sụt mạnh. Đến nay vẫn là chỗ tranh luận lớn nhất (xem Kiểm chứng).

4 · Đóng 16 ngân hàng ở Indonesia

bank closures · deposit guarantee11/1997
Ai quyếtChính phủ Indonesia, trong chương trình với IMF
Lúc đó biết gìNhiều ngân hàng yếu. Giữ ngân hàng "xác sống" thì tốn tiền. Nhưng chưa có bảo đảm tiền gửi toàn bộ.
Chọn gìĐóng 16 ngân hàng; người gửi nhỏ được bảo đảm tới 20 triệu rupiah, người gửi lớn thì không.
Hệ quảNgười dân rút tiền ở cả các ngân hàng khác. Tháng 1/1998 phải bảo đảm toàn bộ tiền gửi.

Nguồn: IMF Issues Brief 00/05 (16 ngân hàng, bài học bảo đảm tiền gửi rõ ràng); Yale Program on Financial Stability (mức 20 triệu rupiah, rút tiền lan rộng, bảo đảm toàn bộ 1/1998; nguồn thứ cấp). IMF, "Views and Commentaries" 26/1/1999, bác ý kiến cho rằng IMF khuyên đóng sau "vài ngày nghiên cứu vội".

5 · Malaysia kiểm soát vốn, không vay IMF

capital controls1/9/1998
Ai quyếtChính phủ Malaysia (Thủ tướng Mahathir)
Lúc đó biết gìĐã thấy các nước vay IMF suy thoái sâu. Ringgit mất giá mạnh, vốn chạy ra.
Chọn gìHạn chế rút vốn, neo 3,80 ringgit đổi 1 USD, cấm giao dịch ringgit ở nước ngoài.
Hệ quảGiới đầu tư phản đối mạnh lúc đó. Hiệu quả thật đến nay còn tranh luận. Neo được bỏ năm 2005.

Nguồn: Jomo K.S. (2004), Oxford GEG Working Paper 2004/08; The Malaysian Insight, iMoney (nguồn thứ cấp).

Nguồn chung của phần này: IMF, Boughton (2012), chương 11; thông cáo IMF 97/37, 97/50, 97/55; IMF họp báo 20/1/1999; CNN Money 2/7/1997 (nguồn thứ cấp); Ngân hàng Trung ương Thái Lan (đình chỉ 27/6/1997).

Phần 4

Thế giới học được gì

Những thứ thay đổi sau năm 1998: cách giữ dự trữ, cách cứu ngân hàng, cách các nước trong vùng đỡ nhau, và cách IMF tự chấm mình.

Trước và sau. Trước: dự trữ mỏng và không minh bạch; nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ; đóng ngân hàng không có bảo đảm tiền gửi; chỉ có IMF để vay. Sau: dự trữ dày hơn và công bố rõ; theo dõi nợ ngắn hạn so với dự trữ; bảo đảm tiền gửi rõ ràng; thêm mạng hoán đổi khu vực Chiang Mai. TRƯỚC 1997SAU 1998 dự trữ mỏng, cam kết giấu kín vay ngắn hạn bằng đô la, làm việc dài đóng ngân hàng, tiền gửi bảo đảm một phần cần đô la gấp: chỉ có IMF dự trữ thật = dự trữ trừ cam kết theo dõi nợ ngắn hạn so với dự trữ bảo đảm tiền gửi nói rõ từ đầu thêm lưới khu vực: Chiang Mai 2000
Bốn chỗ hỏng, bốn chỗ vá. Mỗi dòng bên phải là một bài học được ghi lại trong tài liệu chính thức: Ngân hàng Trung ương Thái Lan tự viết bài học "Tom Yum Kung", IMF ghi bài học bảo đảm tiền gửi, ASEAN+3 lập Sáng kiến Chiang Mai.Nguồn: Ngân hàng Trung ương Thái Lan, "Lessons learnt from the Asian Financial Crisis" (nợ ngắn hạn 65% tổng nợ nước ngoài, dự trữ chỉ bằng 70,4% nợ ngắn hạn cuối 1997); IMF Issues Brief 00/05; tuyên bố chung ASEAN+3, 6/5/2000.
Dự trữ thật, công bố rõBài học lớn nhất của Thái Lan: dự trữ trông thấy không có nghĩa là dùng được. Phải trừ các cam kết.
Nợ ngắn hạn so với dự trữCuối 1997, dự trữ Thái Lan chỉ bằng 70,4% nợ ngắn hạn. Tỷ lệ này thành chỉ số được theo dõi.
Bảo đảm tiền gửi nói trướcIndonesia 1997: đóng ngân hàng khi người gửi chưa yên tâm thì cả hệ thống bị rút tiền.
Lưới khu vựcSáng kiến Chiang Mai (2000), năm 2010 đa phương hóa thành một thỏa thuận chung.

Nguồn: Ngân hàng Trung ương Thái Lan, "Lessons learnt from the Asian Financial Crisis"; IMF Issues Brief 00/05; tuyên bố chung ASEAN+3, 6/5/2000; trang hợp tác tài chính ASEAN+3 của ASEAN (đa phương hóa năm 2010).

IMF tự đánh giá lại: ba lần, ba giọng
Ba lần IMF nhìn lại. Tháng 1/1999: tự đánh giá của nhân viên IMF, thiết kế chính sách nhìn chung phù hợp, nhưng chỉ tiêu ngân sách dựa trên dự báo sai, lẽ ra nới sớm hơn. Tháng 6/2000: lời khuyên không hoàn hảo, nhưng đã sửa kịp. Tháng 7/2003: Văn phòng Đánh giá Độc lập, thắt chặt tài khóa ban đầu ở Indonesia và Hàn Quốc là không cần thiết, dù không phải nguyên nhân của suy sụp. 1/1999"nhìn chung phù hợp"dự báo sai, nới hơi muộn 6/2000"không hoàn hảo"nhưng đã sửa kịp 7/2003 · IEOthắt chặt ban đầu"không cần thiết" càng về sau, càng độc lập, lời nhận sai càng rõ
Nhận sai có mức độ. IEO viết: "Xét diễn biến sản lượng, việc thắt chặt chính sách tài khóa ban đầu ở Indonesia và Hàn Quốc là không cần thiết." Nhưng cùng báo cáo nói mức thắt chặt nhẹ, và suy sụp đến từ hiệu ứng bảng cân đối (nợ ngoại tệ phình ra khi tiền mất giá) mà thiết kế chương trình đã không tính tới.Nguồn: IMF họp báo 20/1/1999 và Lane và cộng sự (1999), IMF Occasional Paper 178; IMF Issues Brief 00/05 (6/2000); IEO (2003), The IMF and Recent Capital Account Crises, chương 4, Mark dịch.
Phần 5

Kiểm chứng: chuyện thật và lời đồn

14 điều hay được kể về khủng hoảng 1997, đối chiếu với tài liệu IMF, Ngân hàng Trung ương Thái Lan và các nguồn có ghi rõ. Bấm từng dòng để xem lý do.

Vì sao đầu cơ thắng ở Thái Lan: bốn điều kiện có sẵn. Thâm hụt vãng lai khoảng 8 phần trăm GDP năm 1996. Nợ ngắn hạn bằng 65 phần trăm nợ nước ngoài. Dự trữ bị khóa trong hợp đồng kỳ hạn khoảng 23 tỷ USD. 58 công ty tài chính phải đình chỉ. Đầu cơ chỉ là người đẩy quân domino đã đứng sẵn. đầu cơ chỉ đẩy được domino đã đứng sát nhau thâm hụt ~8% GDPnăm 1996 nợ ngắn hạn 65%tổng nợ nước ngoài ~23 tỷ USD kỳ hạndự trữ bị khóa 58 công tytài chính bị đình chỉ người bán baht: có thật, nhưng là cú đẩy cuối, không phải lý do domino đứng sát nhau
"Do đầu cơ phá" là nửa câu chuyện. Có người bán baht, và Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã tốn rất nhiều để chống. Nhưng ở Hàn Quốc và Indonesia, cú đánh lớn nhất là chủ nợ ngừng gia hạn khoản vay ngắn hạn, điều IEO gọi là dòng vốn đảo chiều đột ngột.Nguồn: CRS (1998) và UNCTAD, Akyüz (thâm hụt khoảng 8% GDP); Ngân hàng Trung ương Thái Lan (65%, 58 công ty); cam kết kỳ hạn theo nghiên cứu về khủng hoảng Thái Lan (nguồn thứ cấp); IEO (2003).
VỮNGThái Lan thả nổi baht ngày 2/7/1997, mở đầu chuỗi khủng hoảng

Lịch sử chính thức của IMF (Boughton 2012, chương 11): baht mất gần 17% so với đô la trên thị trường hải ngoại ngay trong ngày. CNN Money cùng ngày (nguồn thứ cấp): chuyển sang thả nổi có quản lý.

VỮNGCó giới đầu cơ tấn công đồng baht

Ngân hàng Trung ương Thái Lan bán đô la kỳ hạn để chống lại áp lực bán baht (Boughton 2012). Đầu cơ là có thật; câu hỏi là vì sao họ thắng (dòng tiếp theo).

SAI"Khủng hoảng là do đầu cơ nước ngoài phá"

Nếu hiểu là nguyên nhân chính thì sai. Thâm hụt vãng lai khoảng 8% GDP (CRS, UNCTAD), nợ ngắn hạn chiếm 65% nợ nước ngoài và lớn hơn dự trữ (Ngân hàng Trung ương Thái Lan), dự trữ bị khóa trong hợp đồng kỳ hạn, 58 công ty tài chính yếu. Ở Hàn Quốc và Indonesia, chủ nợ ngừng gia hạn khoản vay (IEO 2003). Lời đổ lỗi cho đầu cơ nổi tiếng nhất đến từ Thủ tướng Malaysia Mahathir năm 1997 (Jomo 2004, nguồn thứ cấp).

VỮNGRupiah mất hơn 80% giá trị

IMF, International Capital Markets Report 1998: đến tháng 1/1998 rupiah mất 81% so với 1/7/1997. Baht mất 56%, won mất 55% (từ 1/10/1997).

VỮNGGói IMF cho Hàn Quốc lớn chưa từng có so với hạn mức

Thông cáo 97/55: SDR 15,5 tỷ, bằng 1.939% hạn mức của Hàn Quốc. Tổng gói tính cả các bên khác khoảng 57 đến 58 tỷ USD (CRS 58,2 tỷ; PIIE khoảng 57 tỷ, nguồn thứ cấp).

VỮNGIndonesia đóng 16 ngân hàng mà chưa bảo đảm đủ tiền gửi, kéo theo rút tiền hàng loạt

IMF Issues Brief 00/05 lấy vụ đóng 16 ngân hàng tháng 11/1997 làm bài học về bảo đảm tiền gửi rõ ràng. Yale YPFS (nguồn thứ cấp): chỉ bảo đảm tới 20 triệu rupiah, rút tiền lan khắp hệ thống, bảo đảm toàn bộ từ 1/1998. IMF (26/1/1999) bác chi tiết "khuyên đóng sau vài ngày nghiên cứu vội", nói đã trăn trở vì biết còn nhiều ngân hàng yếu.

VỮNGChính IMF kết luận thắt chặt ngân sách lúc đầu ở Indonesia, Hàn Quốc là không cần thiết

IEO (2003), chương 4: "In view of output developments, the initial tightening of fiscal policy in Indonesia and Korea was not warranted." Đây là văn phòng đánh giá độc lập của chính IMF.

VỮNGSuharto từ chức ngày 21/5/1998 sau 32 năm cầm quyền

Britannica, IPS 21/5/1998 (nguồn thứ cấp): giữa bạo loạn và khủng hoảng kinh tế; Phó Tổng thống Habibie lên thay.

THẬN TRỌNG"Thắt chặt của IMF gây ra suy sụp"

IEO nói thắt chặt ban đầu không cần thiết, nhưng "nhẹ" và "không phải nguyên nhân của suy sụp sản lượng"; nguyên nhân là hiệu ứng bảng cân đối mà chương trình không tính tới. Nhiều nhà kinh tế phê phán mạnh hơn. Kết luận công bằng: thuốc có phần sai liều, nhưng bệnh có trước.

THẬN TRỌNG"Malaysia từ chối IMF, kiểm soát vốn nên phục hồi tốt hơn"

Malaysia kiểm soát vốn ngày 1/9/1998, khi thị trường khu vực đã qua giai đoạn hoảng loạn nhất. Các nghiên cứu còn tranh luận, chưa có phép so sánh sạch. Giới đầu tư lúc đó phản đối mạnh (Jomo 2004; báo Malaysia, nguồn thứ cấp).

THẬN TRỌNG"Ngày thả nổi, dự trữ ròng của Thái Lan chỉ còn khoảng 2,8 tỷ USD"

Con số của Ủy ban Nukul, nhưng Mark chỉ đọc được qua bản sao trực tuyến. Các nguồn thứ cấp khác ghi cách tính khác (đã dùng 28 trên 30 tỷ, hay 32 trên 33 tỷ). Hướng thì chắc chắn: dự trữ dùng được gần cạn.

SAI"IMF chưa bao giờ nhận sai về châu Á"

IMF họp báo 1/1999 (dự báo sai, lẽ ra nới ngân sách sớm hơn), Issues Brief 6/2000 ("không hoàn hảo"), IEO 7/2003 ("không cần thiết"). IMF nhận sai có giới hạn, nhưng có nhận.

SAI"Gói IMF là tiền cho không"

Đó là tín dụng dự phòng: rút từng đợt, mỗi đợt kèm điều kiện và đánh giá, rồi phải hoàn trả. Ví dụ Thái Lan rút ngay SDR 1,2 tỷ, Hàn Quốc SDR 4,1 tỷ, phần còn lại theo lịch (thông cáo 97/37, 97/55).

SAI"Việt Nam không bị ảnh hưởng"

Tăng trưởng GDP 8,15% (1997), 5,76% (1998), 4,77% (1999); xuất khẩu chỉ tăng 1,9% năm 1998; vốn FDI đăng ký giảm mạnh (Tổng cục Thống kê qua báo chí và tham luận tại hội thảo IMF 2002, nguồn thứ cấp). Việt Nam bị nhẹ hơn vì thị trường vốn chưa mở, nhưng không đứng ngoài.

Nguồn: như ghi trong từng dòng; danh sách đầy đủ ở Phần 9.

Phần 6

Đánh giá: thế giới phản ứng ra sao

Điểm là đánh giá của Mark dựa trên các nguồn ở Phần 9, không phải số liệu của một nghiên cứu.

Phát hiện sớm
2/5
Minh bạch
2/5
Phối hợp
3/5
Rút kinh nghiệm
4/5
Làm đúng
  • Gói IMF cho Thái Lan có trong chưa đầy hai tháng, theo thủ tục khẩn cấp
  • Nới ngân sách khi thấy suy thoái sâu hơn dự báo
  • Tự đánh giá công khai, kể cả đánh giá độc lập (2003)
  • Khu vực lập lưới riêng: Chiang Mai 2000
Làm chưa đúng
  • Cam kết kỳ hạn của Thái Lan không công bố
  • Thắt chặt ban đầu không cần thiết (IEO)
  • Đóng 16 ngân hàng khi chưa bảo đảm đủ tiền gửi
  • Không tính hiệu ứng nợ ngoại tệ phình ra

Nguồn: thông cáo IMF 97/37, 97/50, 97/55 (thủ tục khẩn cấp); IMF họp báo 20/1/1999; IEO (2003); IMF Issues Brief 00/05; Boughton (2012), chương 11; tuyên bố chung ASEAN+3 6/5/2000.

Bệnh đến từ chính các nền kinh tế: vay ngắn, làm dài, giấu con số thật. Thuốc đến nhanh nhưng có phần sai liều. Điều đáng khen nhất là cả hai phía đều viết lại bài học của mình.

Xem thêm: vì sao lời đồn "do đầu cơ" dễ tin

Một kẻ xấu từ bên ngoài là câu chuyện gọn và dễ chịu: không ai trong nhà phải nhận lỗi. Sự thật lộn xộn hơn: nhiều người trong nước vay đô la ngắn hạn vì lãi rẻ, tin rằng tỷ giá sẽ đứng yên mãi.

Bản lộn xộn có ích hơn cho người đi làm: hầu hết đổ vỡ không đến từ một cú đánh, mà từ những cam kết ngắn hạn tích tụ dưới một dự án dài hạn.

Phần "Xem thêm" là nhận xét của Mark, dựa trên các sự kiện có nguồn ở Phần 2, 3 và 5.

Phần 7

Bài học làm việc: đừng vay ngắn hạn bằng tiền người khác để làm việc dài hạn

"Tiền" ở chỗ làm có thể là người mượn từ nhóm khác, ngân sách cấp theo quý, thiện chí của một sếp, hay một nhà cung cấp bạn không kiểm soát.

Hai cách nuôi một dự án 12 tháng. Cách lệch kỳ hạn: nguồn lực mượn từng 3 tháng, mỗi lần hết hạn phải xin gia hạn, nếu cùng lúc bị đòi thì dự án dừng giữa chừng. Cách khớp kỳ hạn: nguồn lực được cam kết đủ 12 tháng, cộng một khoản đệm. dự án 12 tháng lệch kỳ hạn mượn 3 thánggia hạn?gia hạn?bị đòi lại mỗi lần hết hạn là một lần người khác quyết thay bạn khớp kỳ hạn cam kết đủ 12 thángđệm sơ đồ minh họa, không có số liệu
Mỗi thói quen vá một chỗ hỏng của năm 1997. Vay ngắn làm dài, vay bằng thứ mình không làm ra được, dự trữ không trừ cam kết, và cố giữ một "tỷ giá" quá lâu.Nguồn: các chỗ hỏng lấy từ Phần 2, 3, 5; các thói quen là đề xuất của Mark.
Khớp kỳ hạnViệc 12 tháng thì nguồn lực chính phải được cam kết 12 tháng. Viết ra ngày hết hạn của từng nguồn.
Vay bằng "đồng tiền" nào?Nguồn lực có thuộc quyền nhóm mình không? Người mượn, công cụ của bên khác là "nợ đô la": người ta đổi ý là bạn trả giá gấp nhiều lần.
Đệm thật = đệm trừ cam kếtThời gian rảnh của nhóm trừ đi những việc đã hứa mà chưa ghi vào lịch. Công khai con số đó.
Ngưỡng thả nổi viết sẵnĐang cố giữ một hạn chót hay một lời hứa? Ghi trước: tốn đến mức nào thì thôi giữ và nói thật.
Tự kiểm tra trong nhóm mình: 5 câu hỏi

1. Liệt kê ba nguồn lực chính của dự án lớn nhất. Mỗi nguồn được cam kết đến ngày nào? Có cái nào hết hạn trước khi dự án xong không?

2. Nếu tất cả người mượn và ngân sách tạm cùng bị rút trong một tuần, dự án còn chạy được bao nhiêu phần trăm?

3. Có cam kết nào nhóm đã hứa nhưng chưa ghi vào bảng (giống hợp đồng kỳ hạn không công bố)?

4. "Tỷ giá" mình đang cố giữ là gì: một hạn chót, một mức giá, một lời hứa với khách? Giữ thêm một tháng tốn bao nhiêu?

5. Nếu phải "đóng" một hạng mục, người liên quan đã được nói rõ điều gì vẫn được bảo đảm chưa (bài học 16 ngân hàng)?

Xét diễn biến sản lượng, việc thắt chặt chính sách tài khóa ban đầu ở Indonesia và Hàn Quốc là không cần thiết.Văn phòng Đánh giá Độc lập của IMF (IEO), 2003, chương 4, Mark dịch.
Phần 8

Đọc tiếp

IEO (2003), The IMF and Recent Capital Account Crises: Indonesia, Korea, BrazilVăn phòng đánh giá độc lập của IMF chấm chính IMF. Đọc chương 4 về tài khóa và đóng ngân hàng.
Lane và cộng sự (1999), IMF Occasional Paper 178Bản tự đánh giá đầu tiên của nhân viên IMF về chương trình ở Indonesia, Hàn Quốc, Thái Lan.
Boughton (2012), Tearing Down Walls, chương 11 "Asian Flu"Lịch sử chính thức của IMF giai đoạn 1990–1999, kể từng tuần của mùa hè 1997.
Ngân hàng Trung ương Thái Lan, "Lessons learnt from the Asian Financial Crisis"Bài học do chính cơ quan trong cuộc tự viết.
Nhìn lại sự kiện lớn #10: Bão Katrina (2005)Diễn tập xong phải sửa theo bài học diễn tập.
Phần 9

Nguồn gốc

Ưu tiên tài liệu IMF và cơ quan nhà nước. Nguồn thứ cấp ghi rõ. Môi trường làm bài không truy cập được imf.org và bot.or.th, nên các tài liệu này được đối chiếu qua trích đoạn của chính các trang đó trong kết quả tìm kiếm, chưa mở toàn văn.

  1. IMF, Press Release 97/37, 20/8/1997 (Thái Lan, SDR 2,9 tỷ). imf.org · Thư ý định 14/8/1997 imf.org
  2. IMF, Press Release 97/50, 5/11/1997 (Indonesia, SDR 7,338 tỷ). imf.org
  3. IMF, Press Release 97/55, 4/12/1997 (Hàn Quốc, SDR 15,5 tỷ, 1.939% hạn mức). imf.org
  4. IMF, Văn phòng Đánh giá Độc lập (IEO), The IMF and Recent Capital Account Crises: Indonesia, Korea, Brazil, 28/7/2003, chương 4. imf.org
  5. IMF, Issues Brief 00/05, "Recovery from the Asian Crisis and the Role of the IMF", 6/2000. imf.org
  6. IMF, họp báo 20/1/1999 và Lane và cộng sự, Occasional Paper 178 (1999). imf.org · imf.org
  7. IMF, "Views and Commentaries", 26/1/1999. imf.org
  8. IMF, Boughton (2012), Tearing Down Walls: The International Monetary Fund 1990–1999, chương 11. imf.org
  9. IMF, International Capital Markets Report 1998, chương II. imf.org
  10. IMF, Working Paper 99/138, Berg (1999); Staff Country Report 99/55 (Việt Nam). elibrary.imf.org
  11. Ngân hàng Trung ương Thái Lan, "Lessons learnt from the Asian Financial Crisis". bot.or.th
  12. Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS), "The 1997–98 Asian Financial Crisis" (1998). fas.org
  13. UNCTAD, Akyüz, "Causes and sources of the Asian financial crisis". unctad.org
  14. ASEAN+3, tuyên bố chung Bộ trưởng Tài chính, Chiang Mai, 6/5/2000. adb.org
  15. Nguồn thứ cấp: báo cáo Ủy ban Nukul (1998) qua bản sao trực tuyến; các nghiên cứu về khủng hoảng Thái Lan (cam kết kỳ hạn khoảng 23 tỷ USD); CNN Money 2/7/1997; Yale Program on Financial Stability (bảo đảm tiền gửi Indonesia); Boediono qua detik.com và Kontan (2018); Britannica, EBSCO, IPS (Suharto); Jomo K.S., Oxford GEG Working Paper 2004/08, The Malaysian Insight, iMoney (Malaysia); PIIE, chương 5 (gói Hàn Quốc); VnEconomy, Báo Chính phủ (số Tổng cục Thống kê về Việt Nam); tham luận tại hội thảo IMF về FDI, Hà Nội 2002; G24 (2024), "Beyond the Chiang Mai Initiative"; FAO (bảng GDP trích số IMF).