Hyperfocus: How to Be More Productive in a World of Distraction · Chris Bailey
Chú ý là nguồn lực quý nhất mà ta có. Quản lý nó theo hai chế độ, rọi hẹp để làm và thả rộng để nghĩ, thì vừa làm được nhiều hơn vừa sáng tạo hơn.
Hai nửa gần bằng nhau. Nửa sau (tản tập trung) là phần làm sách khác các sách tập trung khác.
| Không hấp dẫn | Hấp dẫn | |
|---|---|---|
| Có ích | Cần thiếtbáo cáo, sửa lỗi, họp kế hoạch | Có mục đíchdự án tâm huyết, học kỹ năng mới |
| Không có ích | Không cần thiếthọp vô ích, việc bận cho có | Gây xao nhãngmạng xã hội, tin tức, lướt video |
Khi lái tự động, ta trôi về ô dưới bên phải. Muốn ở hàng trên, phải quyết định trước.
| Khó chịu | Vui | |
|---|---|---|
| Không kiểm soát được | Xử lý rồi quay lạiđồng nghiệp hỏi, tiếng khoan tường | Cứ tận hưởngngười nhà gọi, bạn rủ cà phê |
| Kiểm soát được | Chặn từ trướcthông báo email, tin nhắn nhóm | Chặn từ trướcmạng xã hội, tin tức, game |
Hàng dưới là thứ ta tự kiểm soát được, nên tắt hết trước khi bắt đầu: bật "không làm phiền", chặn web, để điện thoại phòng khác.
11 con số và nghiên cứu sách hay nhắc, đối chiếu với tài liệu gốc. Bấm từng dòng để xem lý do.
Gloria Mark và cộng sự đo trực tiếp nhiều năm liền; các đợt đo sau cho con số khoảng 40–47 giây. Đây là thời gian nhìn một màn hình, chưa hẳn là "mất tập trung".
Phân tích gộp 94 nghiên cứu (Gollwitzer và Sheeran, 2006) cho hiệu ứng vừa đến lớn. Riêng con số 62% so với 22% trong sách lấy từ một nghiên cứu nhỏ.
Ước lượng phổ biến trong tâm lý học nhận thức (Cowan, 2001), thay cho con số "7 ± 2" cũ.
Chi phí chuyển việc được đo lặp lại nhiều lần trong phòng thí nghiệm (Monsell, 2003). Mỗi lần chuyển mất một chút thời gian và tăng lỗi.
Khái niệm của Sophie Leroy (2009) hợp lý, nhưng số nghiên cứu còn ít và mẫu nhỏ.
Killingsworth và Gilbert (2010) lấy mẫu hơn 2.000 người qua ứng dụng điện thoại. Kết quả là tương quan, và người dùng ứng dụng không đại diện cho mọi người.
Nghiên cứu của Mrazek và cộng sự (2013) chỉ có 48 sinh viên. Các phân tích gộp về thiền cho thấy lợi ích cho chú ý có thật nhưng nhỏ.
Hiệu ứng "ấp ủ" có thật theo phân tích gộp (Sio và Ormerod, 2009). Riêng ý "việc nhàm chán là tốt nhất" dựa chủ yếu vào một nghiên cứu nhỏ (Baird và cộng sự, 2012).
Đây là ước lượng thô từ những năm 1970 mà Timothy Wilson dùng để minh họa, không phải phép đo. Nên hiểu là "rất nhiều so với rất ít".
Con số phổ biến qua Shawn Achor nhưng không truy được tới một nghiên cứu công bố rõ ràng. Hướng chung (cảm xúc tích cực giúp làm việc tốt hơn) có cơ sở, con số thì không.
Atchley và cộng sự (2012) chỉ có 56 người, không chia nhóm ngẫu nhiên, và người đi dã ngoại còn bỏ điện thoại ở nhà, nên không tách được tác động của thiên nhiên.
Đọc như một sổ tay thực hành. Giữ phương pháp, đừng giữ các con số.
Nửa đầu gần với Deep Work của Cal Newport (2016): làm việc sâu, chặn xao nhãng, lên lịch tập trung. Khác biệt là Bailey nói về chú ý ở mức từng giờ, từng thông báo, nên dễ áp dụng hơn với người làm văn phòng.
Nửa sau là phần đáng đọc nhất. Phần lớn sách năng suất coi trí óc lang thang là kẻ thù; Bailey cho rằng nó là một chế độ làm việc khác, dùng để nghỉ, lên kế hoạch và nối ý tưởng, miễn là ta chọn nó có chủ đích.
Sách dựa nhiều vào trải nghiệm của chính tác giả và các nghiên cứu tâm lý học đơn lẻ. Nhiều con số được trích để minh họa cho mạnh, chưa qua kiểm chứng lặp lại. Người đọc nên thử phương pháp trên chính mình thay vì tin con số.
Một ngày làm việc theo sách: rọi hẹp buổi sáng, tỏa rộng xen giữa.